Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Xuân Phước. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Xuân Phước. Hiển thị tất cả bài đăng

Nhân Ngày 30-4 Xem Lại Bài Học Thống nhất Ðất Nước

Thứ Bảy, 6 tháng 9, 2014 | comments

Từ 1802 đến 1975 lịch sử Việt nam chứng kiến hai lần thống nhất sau một thời kỳ phân liệt đẫm máu. Năm 1802 Nguyễn Ánh diệt được nhà Tây Sơn, lên ngôi lấy hiệu là Gia Long và chọn Phú Xuân làm kinh đô. Đến đời Minh Mạng cố đô Thăng Long được đổi thành Hà Nội.



Năm 1975 Ðảng Cộng Sản Việt Nam chiếm được Sài Gòn, thống nhất hai miền Nam Bắc sau hơn 20 năm chia cắt và chiến tranh. Sài Gòn bị đổi tên “Thành Phố Hồ chí Minh.”
Hai lần thống nhất cách nhau gần 200 năm. Nhưng quá trình thống nhất và sự chọn lựa con đường phát triển đất nước của hai triều đại có một số điểm tương đồng. Sự sai lầm trong việc chọn lựa con đuờng phát triển đất nước ở cả hai thời đại đã đánh mất cơ hội phục hưng tổ quốc, làm tiêu tán nội lực dân tộc, dẫn đưa đất nước đến giai đoạn suy vong.

* * *
Khi Nguyễn Ánh phát động chiến tranh chống lại nhà Tây Sơn, ngài đã dựa vào hai thế lực ở nước ngoài. Ðó là lực lượng của người Tây Phương và lực lượng người Trung Hoa.
Đứng đầu lực lượng Tây Phương phò Nguyễn Ánh là đức Giám Mục Bá Ða Lộc. Nguyễn Ánh gặp giám mục Bá Ða Lộc khi ngài bôn tẩu ở Vọng Các, kinh đô của Xiêm La, tức Thái Lan. Từ đó, mối quan hệ của hai nguời trở nên mật thiết. Ðể vận động sự trợ giúp của Pháp quốc, Nguyễn Ánh đã giao hoàng tử Cảnh lúc mới lên bốn cho Giám Mục Bá Ða Lộc. Đồng thời Giám Mục có toàn quyền ký hiệp định với hoàng đế Pháp để giúp cho Nguyễn Ánh đánh nhà Tây Sơn. Sau đó ông trở về Pháp để vận động viẹn trợ cho Nguyễn Ánh. Ngài đã thay mặt Nguyễn Ánh ký hiệp ước 1787 dùng các đảo Côn Sơn và các đảo ngoài khơi Đà Nẵng để đổi lấy viện trợ quân sự. Nhưng việc thi hành hiệp ước 1787 với Pháp thất bại. Sau đó Giám Mục Bá Ða Lộc đã bỏ tiền túi cũng như vận động tài chánh riêng để mua khí giới và đưa sĩ quan Pháp về huấn luyện cho Nguyễn Ánh. Những người Pháp giúp cho Nguyễn Ánh như Sạc Ne (Charner) và Sai Nhô (Chaigneau) đều được tham dự triều chính của vua Gia Long khi ngài lên ngôi.

Trong những ngườì chịu ảnh hưởng Tây Phương trong triều đình Gia Long, quan trọng nhất là Hoàng tử Cảnh. Như đã nói trên, hoàng tử Cảnh được vua cha Gia Long cho theo đức Giám Mục Bá Ða Lộc từ lúc ông mới 4 tuổi. Ở tuổi thơ ấu nầy, hoàng tử Cảnh rất dễ tiếp thu văn hoá và ngôn ngữ tây phương. Có lẽ hoàng tử Cảnh là vị hoàng tử Á Châu đầu tiên được theo tây học ở cuối thế kỷ thứ 18. Tuy lịch sử không nói nhiều đến cuộc đời của Hoàng tử Cảnh, ngày nay chúng ta có thể suy luận được rằng Hoàng tử Cảnh là người tiếp cận văn hoá tây phương rất sớm, thông thạo Pháp ngữ và có quan hệ rất tốt với tây phương. Nói thế để xác định rằng sở học tây phương của hoàng tử Cảnh đi trước cả Nguyễn Trường Tộ mấy chục năm. Và có lẽ cuộc cách mạng kỷ nghệ tại Việt Nam đã có thể đựơc triển khai ngay thời đại hậu Gia Long nếu hoàng tử Cảnh không bị mất sớm.

Cùng lúc vơí những ngưòi Pháp đến Việt Nam giúp Nguyễn Ánh, một số ngưòi Minh Hưong đã gia nhập lực lượng của Nguyẽn Ánh để chống với Tây Sơn. Ngưòi Minh Hương là những ngưòi Trung Hoa phục vụ cho nhà Minh xin tỵ nạn chính trị tại Đại Việt khi nhà Thanh diệt nhà Minh. Sau hơn 100 năm sống ở Đại Việt, những ngưòi Hoa kiều nầy trở thành một bộ phận của dân tộc nhưng họ vẫn có những mối quan hệ chặt chẽ với mẫu quốc Trung Hoa. Do đó, những người Minh Hương nầy trở thành lực lượng có xu huớng thân Trung Hoa trong triều đình Gia Long. Ðứng đầu lực lượng nầy là Trịnh Hoài Ðức, Lê Quang Ðịnh, và Ngô Nhân Tịnh. Cả ba ông đều gốc người Minh Hương và là học trò xuất sắc của Võ trưòng Toản, một bậc thâm nho cũng gốc người Minh Hương, có nhiều uy tín tại Gia Ðịnh. Cả ba người đều tham gia hoạt động phò Nguyễn Ánh từ năm 1788.

Khi Gia Long lên ngôi, Trịnh Hoài Ðức làm đến chức thượng thư bộ lại kiêm bộ hình và phó tổng tài Quốc Sử Quán. Lê Quang Ðịnh được thăng Binh Bộ thượng thư, tương đương với bộ trưởng quốc phòng ngày nay. Ngô Nhơn Tịnh sau được thăng Công Bộ thượng thư. Cả ba ông đều dóng những vai trò quan trọng trong mối quan hệ ngoại giao với Trung Hoa.
Nhưng vai trò quan trọng nhất của Trịnh hoài Ðức là được vua Gia Long ủy thác để dạy dỗ cho hoàng tử Ðảm. Hoàng tử Ðảm sau lên ngôi lấy hiệu là Minh Mạng.

Hai xu hướng thân tây phương và thân Trung hoa trong triều Gia Long xung đột gay gắt về vấn đề kế vị hoàng tử Cảnh sau khi hoàng tử qua đời. Khi Trịnh Hoài Đức thuyết phục được Gia Long phế dòng trưởng lập dòng thứ, vua Gia Long đã chọn Minh Mạng làm người kế vị. Khi Minh Mạng lên ngôi, dưói ảnh hưởng của Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định, và Ngô Nhân Tịnh, Việt nam đã nghiêng hẳn theo mô hình Nho giáo của Thanh triều (Thanh Nho) để phát triển đất nước.
Sau khi lên ngôi, để giữ vững ngai vàng, Minh Mạng (1820-1840) triệt hạ dòng dõi của hoàng tử Cảnh bằng cách xử tử vợ và người con trưởng của hoàng tử Cảnh, và giáng ngưòi con thứ làm thưòng dân. Về phưong diện ngoại giao, ông cho giảm dần quan hệ với Tây phương. Những ngườì Pháp làm việc với Gia Long chán nản bỏ về nước.

Với những người Minh Hương thân Trung hoa cầm nắm vận mạng của triều đình, Minh Mạng đã thi hành một loạt các chính sách ngoại giao đi ngược với đưòng lối của Gia Long. Từ một nền chính trị ngoại giao khai phóng của Gia Long với những quan hệ rộng rãi với các quốc gia trên thế giới, Minh mạng và các vua kế vị (Thiệu Trị (1841-1847), và Tự Đức (1848-1883)) cùng triều đình thân Trung Hoa đã bắt đầu một nền chính trị cục bộ, thiển cận với chính sách bế môn toả cảng, đoạn tuyệt với tây phương, ban hành lệnh cấm đạo.

Do ảnh hưởng của Thanh Nho, triều đình nhà Nguyễn từ Minh Mạng trở đi chỉ chú trọng đến văn chương thi phú biền ngẫu, đi theo con đường trọng văn và xao lãng vấn đề quân sự và quốc phòng.
Ðây là lý do, sau khi Gia Long băng hà, sức mạnh quân sự của triều Nguyễn suy giảm hẳn. Khi các tướng lãnh thuộc thế hệ Gia Long qua đời, các tướng lãnh thế hệ kế thừa không đủ tài thao lược để thực hiện chính sách quốc phòng hữu hiệu. Lực lượng quân sự của Trương Minh Giảng không đủ khả năng duy trì guồng máy cai trị ở Nam Vang. Và Trương Minh Giảng đã bị người Miên đánh đuổi về nước dưới triều Thiệu Trị.

Đến thời kỳ Tự Đức, xu hướng thân Trung Hoa hoàn toàn nắm trọn quyền trong triều đình. Sự kiện nầy được xác định khi triều đình họp nhau bác bỏ bản điều trần canh tân đất nước của Nguyẽn Trường Tộ. Nguyễn Trưòng Tộ (1828-1871) là một nho sĩ theo đạo Thiên Chúa. Ông nổi tiếng thông minh và hay chữ, được người đời gọi là Trạng Tộ. Ông cũng thông thạo nhiều ngôn ngữ Tây phương. Ông làm thông ngôn cho các giáo sĩ Thiên Chuá trong việc truyền đạo tại Việt Nam. Sau một thời gian đi chu du kháp thế giới, đặc biệt là nước Pháp và Ý, ông trở về Việt Nam để mấy năm trời đem tâm huyết của một người yêu nước viết nhiều bản điều trần để cải cách và canh tân đất nước dâng lên triều đình Tự Đức. Nhưng trìều đình Tự Đức với đầu óc cổ hủ của Thanh Nho không đủ tầm nhìn để hiểu được những thế lớn đang bùng ra trong thiên hạ thời bấy giờ. Sau hoàng tử Cảnh năm mươi năm, Việt Nam đã mất đi cơ hội phát triển một lần nữa khi triều đình nhà Nguyễn quay mặt trưóc những yêu cầu canh tân của Nguyễn Trường Tộ.

Điều bất hạnh hơn cho dân tộc là lúc ấy giáo điều Thanh Nho đã bắt đầu rã mục. Triều đình nhà Thanh đang trên đà phá sản. Năm 1839 chiến tranh nha phiến bùng nổ, nhà Thanh phải ký các hiệp ước biên giới nhượng đất cho Anh và Pháp. Với hiệp ước Nam Kinh, Anh chính thức chiếm đóng Hong Kong năm 1842. Và với hiệp ước Hoàng Phố 1844, Pháp chính thức đặt chân lên lãnh địa Trung Hoa. Ở mạn bắc, năm 1850 quân đội của Nga Hoàng tràn xuống Hắc Long Giang chiếm đóng Mãn Châu, quê hương của nhà Thanh. Từ 1854 đến 1860, Hồng Tú Toàn và phong trào Thái Bình Thiên Quốc đã chiếm gần một nửa Trung Hoa. Cuối cùng, cuộc cách mạng Tân Hợi 1911 của phong trào cách mạng Quốc Dân Đảng dưới sự lãnh đạo của Tôn Văn đã lật đổ triều đình phong kiến Mãn Thanh để xây dựng chế độ Cộng Hoà.

Trong khi đó, triều đình nhà Nguyễn vẫn còn như mơ ngủ. Tiếng súng của hải quân Pháp bắn vào Đà Nẳng năm 1856 vẫn không làm cho triều đình Tự Đức tỉnh giấc mộng Thanh Nho. Sau khi Pháp chiếm Nam Kỳ năm 1860, tức là 20 năm sau khi nhà Thanh bị liệt cường xâu xé và đang dãy chết, triều đình Tự Đức vẫn còn cho ngưòì đi sang Trung Hoa cầu viện. Những tiếng nói đòi cải cách của các sĩ phu yêu nước như Nguyễn Trường Tộ, Bùi Viện, Nguyễn Lộ Trạch trở thành nổi trăn trở kéo dài hàng thế kỷ của nhiều thế hệ. Ý hệ Thanh Nho làm triều đình nhà Nguyễn u mê đến nổi không thấy được một thế giới mới đang ra đời với cuộc cách mạng kỷ nghệ đang đẩy xã hội tây phương lên đỉnh cao của lịch sử phát triển xã hội loài ngườì. Và cuộc cách mạng đó làm thay đổi cục diện thế giới và làm thay đổi lịch sử nước Đại Việt.

Hậu quả bi thảm của nền chính trị do đầu óc cổ hủ, thiển cận lãnh đạo đưọc thấy rõ ràng khi tàu chiến của Pháp kéo vào hải phận Đại Việt. Khi Pháp tấn công Nam Kỳ thì triều đình hoàn toàn không có đủ năng lực quân sự và chiến lưọc quốc phòng để đối phó. Những võ tướng uy tín trong triều như Nguyễn Tri Phương, Phan Thanh Giản (cũng gốc người Minh Hương) dù thừa khí phách của nho gia nhưng không đủ tài thao lược quân sự để lãnh đạo cuộc chiến tranh chống xâm lược. Khi Pháp chiếm Sài Gòn thì súng ống và đạn dược của quan quân Triều đình có rất nhiều nhưng quân đội ô hợp không có khả năng chống trả quân xâm lăng. Hậu quả tất nhiên là đất nước đã mất vào tay thực dân.
Với Hoà Ước Nhâm Tuất 1862 và hoà ước Patenotre 1884, công cuộc thống nhất đất nước của Gia Long được coi như cáo chung. Việt Nam bước qua trang sử mới, đó là trang sử nô lệ. Và sau 1000 năm giành được độc lập từ Trung Hoa thời Ngô Quyền Vương, nước Đại Việt lại một lần nữa mất quyền tự chủ.

Cái nhục mất nước, tụt hậu của dân tộc Đại Việt ở thế kỷ 19 phát xuất từ nhiều yếu tố lịch sử khác nhau. Thế nhưng sự chọn lựa mô hình phát triển đất nước, sự ỷ dốc vào Thanh triều Trung Hoa trên mặt trận ngoại giao và văn hoá thời kỳ hậu Gia Long, chính sách bế môn toả cảng, và sự tin tưỏng mù quáng vào giáo điều Thanh Nho bất chấp các bản điều trần yêu cầu canh tân của các sĩ phu tiến bộ là những yếu tố quyết định đưa đất nước vào giai đoạn nô lệ.
* * *
Ðến năm 1975, tức gần 200 năm sau, Cộng sản thống nhất đất nước. Giống như thời nhà Nguyễn, những người lãnh đạo đảng CSVN đứng trước những chọn lựa chiến lược để canh tân, để đưa đất nước vào giai đoạn phục hưng sau một thời kỳ nô lệ thực dân và thời kỳ chiến tranh hậu Pháp thuộc.
Tình hình Việt Nam ở thời điểm tháng 4 năm 1975 hết sức thuận lợi cho việc phát triển đất nước.
Xã hội miền Nam sau hơn 20 năm xây dựng, mặc dù bị chiến tranh, đã đạt được những thành quả đáng kể. Về phương diện kinh tế miền Nam đã có những cơ sở kỹ nghệ hạ tầng cao cấp đủ khả năng giúp nền kinh tế hậu chiến cất cánh. Về phương diện thương mại, Sài Gòn đã là trung tâm điểm của kinh tế Đông Nam Á. Về phương diện nông nghiệp, sức sản xuất nông nghiệp của miền Nam đủ để nuôi cho cả nước.

Thêm và đó, nền giáo dục miền Nam với những cơ sở giáo dục hiện đại đã đào tạo được nhiều chuyên gia kinh tế, khoa học, kỷ thuật thượng thặng. Khoa học điện toán đã bắt đầu đưọc đưa vào trong công việc quản lý hành chánh và giáo dục. Đó là cơ sở khoa học kỷ thuật chuẩn bị đưa đất nưóc vào cuộc cách mạng điện toán và điện tử của thời ký 1980s. Đồng thời quan hệ ngoai giao của miền nam và các nước tây phương và Hoa Kỳ hêt sức tốt đẹp. Đặc biệt, Liên Hiệp Quốc đồng ý để cho hai miền Nam Bắc gia nhập tổ chức quốc tế nầy với tư cách của hai nưóc độc lập.
Nói chung ở thời điểm 1975 miền Nam đã ở vị thế ngang ngữa với Nam Triều Tiên, Đài Loan và vượt xa Thái Lan và Malaysia.

Trước viễn ảnh của một đất nước thống nhất và hoà bình, nhiều nhà trí thức yêu nước miền Nam đã bất chấp mối đe doạ chính trị, tiếp tục giấc mơ Nguyễn Trưòng Tộ. Họ từ chối những lời mời di tản ra nước ngoài của Hoa Kỳ, của thân nhân, để ở lại xây dựng đất nước. Có lẽ nhiều người yêu nước trong hàng ngũ Cộng Sản cũng chia xẻ giấc mơ Nguyễn Trưòng Tộ. Nhiều ngưòi đã hy vọng rằng với những bài học thất bại trong việc áp dụng chế độ Cộng Sản ở miền bắc, những ngưòi lãnh đạo ở Hà Nội sẽ thức thời để trở thành những “Minh Trị Thiên Hoàng” của Việt Nam để phát triển và phục hưng dân tộc.
Điều làm mọi người kinh ngạc và bàng hoàng là sau hoàng tử Cảnh và Nguyễn Trường Tộ gần 200 năm, lịch sử lại tái diễn.

Từ măm 1976 ĐCSVN bắt đầu áp dụng chính sách Cộng Sản trên toàn quốc. Đất nước bước vào đoạn bế môn toả cảng, cắt đứt mọi liên hệ với các nước tự do dân chủ. Những quan hệ ngoại giao, nếu có, chỉ có trên hình thức.
Đảng Cộng Sản Việt nam đã biến đất nước thành một nhà tù vĩ đại. Hơn 300.000 quân cán chính Việt Nam Cộng Hoà đã bị giam giữ vộ hạn định. Đây là thàm hoạ lịch sử mà cái tàn ác của vua Gia Long khi ngài trả thù nhà Tây Sơn cũng không thể nào so sánh đưọc. Và suốt lịch sử 5000 năm của dân tộc cũng không có một thời đại nào có cuộc trả thù khủng khiếp như thời kỳ Cộng Sản thống nhất đất nước.

Về phương diện kinh tế, một loạt các chính sách kinh tế rùng rợn và ngược đời đã được thực hiện: hợp tác hoá nông nghiệp, cải tạo công thương nghiệp, “đánh tư sản”, đổi tiền, chính sách tem phiếu, hộ khẩu, cưỡng đoạt đoạt tài sản của người có tiền của, và kinh khủng nhất là chính sách xoá bỏ quyền tư hữu. Chỉ trong một thời gian ngắn toàn bộ tài sản của nhân dân thuộc vào tay của đảng Cộng Sản Việt Nam. Và cũng trong thời gian đó, kinh tế Việt nam điêu tàn. Trong thời chiến tranh gạo ở miền Nam dù không dư thừa nhưng đủ nuôi cho cả nước. Dưới chính sách kinh tế hợp tác xã của Cộng Sản, gạo do hai miền nam bắc sản xuất trong thời bình không đủ cung cấp cho toàn dân. Chỉ sau vài năm dưới chế độ cộng sản toàn dân phải ăn khoai sắn và bo bo. Trong khi kinh tế các nước trong vùng đi vào cuộc cách mạng địện toán và cất cánh nhanh chóng thì người dân Việt Nam phải sắp hàng cả ngày để mua gạo, mua thịt, và các loại nhu yếu phẩm. Đất nước ở bến bờ của nạn đói lớn nhất từ năm 1945 với hàng trăm ngàn nông dân bỏ ruộng vưòn lên tỉnh kiếm ăn. Nông dân Thái Bình Xuân Lộc, Tây nguyên thay nhau nổi dậy.

Những chuyên gia kinh tế, tài chánh, kỹ thuật yêu nước quyết định ở lại hợp tác với chính quyền đều vở mộng. Lòng yêu nước chân thành và đầy hy vọng của họ mong được đóng góp phát triển đất nước thời kỳ hậu chiến được trả giá bằng tù đày và khổ sai lao động. Đến năm 1990 kinh tế xã hội chủ nghĩa do đảng Cộng Sản Việt Nam xây dựng 15 năm trên toàn đất nước hoàn toàn phá sản. Và cũng đến thới điểm đó, hàng triệu ngưòi đã bỏ nước ra đi.
Về phương diện văn hoá, ĐCSVN triệt để xoá nền văn hoá dân tộc để thay vào đó là “văn hoá Mác Lê”. Dưới sự lãnh đạo của tập đoàn “những ngưòi vượn do lao động thành ngừơi” tại bắc bộ phủ, triết học “mạnh được yếu thua” của Mác Lê đã được thay thế truyền thống triết học nhân bản của dân tộc. Về phương diện tâm linh, đảng CS cố tâm tiêu diệt tôn giáo. Từ năm 1975 CS đã phát động chiến dịch “chống thằng trời” để khắc phục thiên tai lũ lụt. Với tâm thức duy vật vô thần, đảng CSVN đã chối bỏ mọi truyền thống văn hoá trong việc trị nước. Đứng về phương diện tâm linh dân tộc, ông Hồ chí Minh và những ngưòi kế vị của ông là những ngưòi ngườì lãnh đạo đã phủ nhận giá trị cổ truyền. Đền chùa nhà thờ tại những vùng quê đã đưọc đảng Cộng Sản Việt Nam trưng dụng để làm đồn công an, kho lương thực, nhà hàng tập thể. Và chế độ Cộng Sản là chế độ duy nhất trong lịch sử đã không làm lễ ra mắt Trời Đất và tổ tiên khi nắm chính quyền.

Về phương diện quân sự, đến năm 1990 sức mạnh quân sự của Việt Nam suy giảm rõ rệt. ĐCSVN không còn đủ khả năng chiếm đóng Campuchia. Như Trương Minh Giảng cách đó hơn 150 năm, lực lượng chiếm đóng Campuchia của ĐCSVN phải rút về nước. Đến năm 1999 Bắc Kinh không một phát súng đã ép ĐCSVN phải ký hiệp ước biên giới trên đất liên và hiệp ước phân định vịnh bắc bộ để nhượng lãnh thổ và lãnh hải cho Trung quốc.
Cũng như sự phá sản của Thanh Nho cách đây hơn 150 năm, phong trào Cộng Sản thế giới đã bắt đầu tan rã từ những năm 1960 khi mâu thuẩn của hai siêu cưòng Nga Hoa bùng nổ trở thành những trận chiến biên giới đẩm máu. Những ngưòi Cộng Sản Việt Nam lúc ngã theo Tàu, lúc ngã theo Nga. Mỗi lần có sự xoay chiều chính trị là xảy ra những đợt thanh trừng rùng rợn trong nội bộ đảng. Sau năm 1975, ĐCSVN đã ngã hẳn theo Liên Xô và ra mặt chống đối bọn “bành trướng Bắc Kinh”. Sự chọn lựa Liên Xô đã phải trả giá bằng những trận chiến biên giới Việt Trung naam 1979 với hàng trăm ngàn nhân mạng thưong vong.

Đến năm 1990 các chế độ CS ở Liên Xô và Đông Âu đồng loạt sụp đổ. Liên Xô , thành đồng cách mạng vô sản thế giới và tổ quốc thứ hai của những ngưòi Cộng Sản Việt Nam, đã lạnh lùng chia tay với chủ nghĩa Mác Lê không một lời từ giả, bỏ Đảng Cộng Sản Việt Nam chơ vơ như trẻ con lạc chợ. Thay vì noi theo gương Liên Xô tháo gở cơ chế Cộng Sản để xây dựng một đất nưóc tự do dân chủ, những ngưòi Cộng Sản lại xoay chiều chính trị. Trong giờ phút thập tử nhất sinh của chế độ họ đã phải cầu hoà với Trung Quốc. Và để trả giá cho sự dại dột theo Liên Xô trưóc đây họ đã không ngần ngại ký ngay mật ước nhượng đất và nhuợng biển cho Bắc Kinh. Đồng thời ĐCSVN đã nhanh chóng đổi mới kinh tế theo mô hình Đặng Tiểu bình. Những tiếng nói muốn thay đổi cơ chế chính trị theo gương Liên Xô như của ủy viên bộ chính trị Trần Xuân Bách, Nguyễn Cơ Thạch đã bị thanh trừng không khoan nhượng.

Thế nhưng điều nghịch lý là thực chất của đổi mới là chấp nhận con đường phát triển của Việt Nam Cộng Hoà trước năm 1975. Đó là con đường kinh tế thị trường với sự mở rộng hợp tác thị trường Tây Phương và Hoa Kỳ. Đó là mô hình kinh tế tư bản. Và mô hình kinh tế tư bản với bản chất mâu thuẩn với lý thuyết kinh tê Mác Lê là nguyên nhân trực tiếp và sâu xa để đảng Cộng Sản phát động cuộc chiến 20 năm và cuộc chiến đó đã chấm dứt ngày 30-4- năm 1975.

Ngày nay, kinh tế Việt Nam đã có những tiến bộ khả quan. Nhưng đó là những tiến bộ tương đối so với với thời kỳ chuyên chính vô sản đói rách và đen tối. Nếu nhìn trên bình diện vĩ mô thì thực chất của “chính sách đổi mới” là quyết định không áp dụng chủ nghĩa Mác Lê vào một phần đời sống kinh tế quốc dân. Sự hồi sinh của “khu vực kinh tế phi Mác Lê” trên sinh hoạt kinh tế quốc gia giúp cho nhân dân được tự do làm ăn. Nhờ thế, ngày nay bộ mặt kinh tế của Việt nam đã thay đổi. Nhưng khi so sánh với những tiến bộ của Nam Triều Tiên, Đài Loan, Singapore, Nhật Bản, thì Viêt Nam vẫn là nước chậm tiến nhất trong vùng. Lực phản động của chủ nghĩa Mác Lê hơn 60 năm qua là sức tiêu cực làm cho khu vực kinh tế phi Mác Lê, (hay khu vực kinh tế thị trường), không thể phát huy trọn vẹn tiềm năng của nó. Thêm vào đó, nền kinh tế Việt nam đưọc hồi sinh nhờ vào hơn 2 tỷ đô la hàng năm của người Việt tỵ nạn Cộng Sản chuyển về cho thân nhân, và giúp cho các đảng viên Cộng Sản rửa tiền ở hải ngoại.

Về phương diện văn hoá, tuy nền văn hoá Mác Lê đã phá sản nhưng chính sách văn hoá trong suốt sáu mươi năm qua đã làm cho văn hoá dân tộc bị tật nguyền và suy yếu. Sự sụp đổ của chủ nghĩa Mác Lê trên thế giới kéo sự sụp đổ của nền văn hoá duy vật đã tạo khoảng trống trong sinh hoạt văn hoá. Từ khoảng chân không ấy, những di sản văn hoá trước năm 1975 đã xuất hiện trở lại. Những tác phẩm thơ văn nhạc thời tiền chiến và miền Nam trước 1975 đã trở thành những món ăn tinh thần của người dân Việt Nam. Âm nhạc chói tai XHCN, văn chương đấu tranh giai cấp đã phải lùi bước trước sự phục sinh truyền thống sáng tác phong phú, đa dạng và nhân bản để đáp ứng với nhu cầu tinh thần của người dân ngày nay.

Tuy nhiên việc phục hồi di sản văn hoá miền Nam chưa đủ năng lực để phục hưng dân tộc. Giáo điều Mác Lê vẫn còn hằn sâu trong tư duy của ngưòi Cộng Sản, và não trạng nô lệ vào chủ thuyết ngoại bang vẫn đè nặng trên đời sống văn hoá Việt Nam.
Sự phá sản của chủ nghĩa Mác Lê trên thế giới, sự quay về với mô hình phát triển của Việt Nam Cộng Hoà, sự phục sinh của văn hoá miền Nam trên đất nưóc hiện nay đòi hỏi chúng ta phải đánh giá lại toàn bộ ý nghĩa cuộc chiến tranh “Chống Mỹ Cứu Nước” của ĐCSVN.

Một số vấn đề được đặt ra ở đây. Tại sao dân tôc Việt Nam phải mất đi 3 triêu nhân mạng, với 10 triệu thương vong và phải bỏ ra 20 năm vô cùng quí báu để hai miền Nam Bắc đánh nhau để giải quyết vấn đề chia cắt đất nước? Liệu có một giải pháp không đổ máu để giải quyết vấn đề nầy hay không? Tại sao khi thống nhất đất nước những người CSVN phải thực hiện nền kinh tế Mác Lê bằng cách xoá đi xã hội miền Nam thịnh vượng, để rồi 30 năm sau, sau khi thiết lập nên kinh tế đã xua đuổi người dân ra biển, chiếm đoạt tài sản nhân dân và làm cho đất nước nghèo đói, họ phải trở lại đi theo mô hình phát triển của xã hội đó?
Bài học phân chia đất nước của Nam Bắc Triều Tiên, của Trung Quốc và Đài Loan, bài học thống nhất của Đông Đức và Tây Đức, của Trung Quốc và Hongkong, cho thấy chiến tranh không phải là giải pháp duy nhất để giải quyết vấn để thống nhất.

Ở đây chúng ta không thể không xem lại bài học của Trung Quốc đối với Đài Loan và Hong Kong. Trong khi Trung quốc hô hào chiến tranh giải phóng “chống đế quốc Mỹ xâm lược”, tích cực viện trợ bom đạn mìn cho Việt Nam, các nưóc Nam Mỹ, và các nước Phi Châu để các nước nầy phát động chiến tranh “giải phóng” thì chính họ đã âm thầm chọn lựa con đường chính trị, không chiến tranh, không đổ máu để giải quyết vấn đề Đài Loan va Hong Kong. Họ đã dùng xương máu của dân Việt Nam và của các nước nhược tiểu làm con bài để thương lượng với Hoa Kỳ và tây phưong trên mặt trận chính trị. Trong khi đó, những người Cộng Sản Việt Nam đi nghe những lời “xúi trẻ ăn cứt gà” của đàn anh Trung Quốc, đem dân tộc Việt nam vào biển máu của chiến tranh nồi da xáo thịt, biến dân tộc Việt nam thành những con thiêu thân cho chủ nghĩa Mác Lê.

Thay vì chọn con đường thẳng tiến đến nền kinh tế thị trường để phát triển như Nam Hàn, Ðài Loan, Hong Kong Singapore, và miền Nam Việt nam trước năm 1975, ĐCSVN đã chọn con đường Mác xít Leninit, Stalinít, Maoít nghèo đói, đầy máu xương và đầy nước mắt. Con đường Mác Lê nầy cũng ngoằn nghèo lắm gian truân. Lúc theo Tàu, lúc theo Nga, lúc thì theo Mỹ. Điều nầy cho thấy ý thức hệ Mác Lê không thể giúp cho ngưòi Cộng Sản Việt Nam có cái nhìn chính xác về con ngưòi, đất nước và thế giới để đưa đất nước lên ngang tầm thời đại.

Hãy nhìn lại những quốc gia Á Châu trước đây như Malaysia, Thái Lan, Đài Loan, và Nam Triều Tiên. Trong thời gian chiến tranh, các quốc gia nầy còn nghèo nàn lạc hậu hơn miền nam Việt Nam trước năm 1975. Những quốc gia nầy đã chọn Hoa Kỳ và các nước Tây Phương làm bạn. Ngày nay, Malaysia Nam Triều Tiên, Đài Loan trở thành những con rồng kinh tế bay cao với chủ quyền lãnh thổ không sức mẻ. Ngày nay họ là những chủ nhân ông của những công ty tư bản to lớn đang đầu tư vào Việt Nam để xử dụng lực lượng nhân công Việt Nam nghèo đói và rẽ mạt do chế độ XHCN sản xuất. Hàng năm, hàng trăm ngàn thanh niên thiếu nữ Việt Nam “được” ĐCSVN xuất khẩu để làm nô lệ tình dục và lao nô cho các quốc gia trong thời gian chiến tranh Việt nam bị người Cộng Sản gọi là “chó săn của đế quốc Mỹ xâm lược.” Trong khi đó con rồng Việt Nam vẫn quằn quại không vươn lên nỗi vì cái đầu rồng bị nhồi nhét đống rác Mác Lê quá nặng nề.

Nổ lực hiện nay của ĐCSVN gia tăng hợp tác kinh tế và quân sự với Hoa Kỳ để tồn tại cũng như áp dụng chính sách của Việt Nam Cộng Hoà vào việc phát triển kinh tế đã chứng minh được rằng “Chiến Tranh Chống Đế Quốc Mỹ Xâm Lược” là công việc không cần thiết và gây quá nhiều thiệt hại cho đất nước.
Không cần thiết vì sự hiện diện của Hoa Kỳ trong thời chiến tranh tại Thái Lan, Malaysia, và Nam Triều Tiên và sự độc lập lãnh thổ của các nước nầy hiện nay minh chứng rằng Hoa Kỳ không có nhu cầu xâm lăng Việt Nam hay các nước trên. Thật vậy, Hoa Kỳ và Tây Phương cũng như các nước phát triển ở Á Châu không còn là mối đe doạ lãnh thổ cho Việt Nam. Điều dễ hiểu là sau thế chiến thứ hai, sau khi chế độ thực dân cáo chung và sự hình thành của Liên hiệp Quốc, đối với các quốc gia văn minh tiến bộ Tây Phương và Hoa Kỳ, ý niệm xâm lược lãnh thổ các nước khác đã lỗi thời.
Nếu cuộc chiến tranh (1954-1975) vừa qua không có ý nghĩa của một cuộc chiến chống xâm lăng của Mỹ như quan điểm của ĐCSVN, thì cuộc chiến ấy có giá trị như là cuộc chiến ý thức hệ đã giúp cho việc ngăn chận làn sóng Cộng Sản tràn xuống Đông Nam Á, Nam Á và tràn lên Bắc Á, theo quan điểm của miền Nam.

Thực tế về nền kinh tế nghèo đói và chính trị bạo tàn của Bắc hàn, Liên Xô, Cu ba, Trung Quốc, Khmer Đỏ, và các nước Đông Âu cho thấy Cộng Sản là hiểm hoạ lớn nhất của loài người từ trước đến nay. Cuộc chiến Việt Nam đã làm chậm, nếu không nói là ngăn ngừa được, sự phát triển của hiểm hoạ Cộng Sản vào Thái Lan, Mã Lai, Philippines, Nam Dương và Ấn Độ. Cái bất hạnh của dân tộc Việt Nam là cái may mắn cho các nước trong vùng. Khi dân tộc Việt Nam chiến đấu giết lẫn nhau để làm mũi xung kích của khối xã hội chủ nghĩa và tiền đồn chống Cộng của thế giới tự do, thì Singapore, Mã Lai, Thái Lan, Nam Dương, Nam Triều Tiên, Đài Loan được hoà bình để phát triển kinh tế. Các quốc gia này còn được giàu lên vì chiến tranh Việt Nam. Khi ĐCSVN Việt Nam đẩy dân tộc vào lò thí nghiệm xã hội chủ nghĩa để đất nước tan hoang điêu tàn thì các quốc gia trong vùng đã xây dựng được một xã hội dân sự ổn định và văn minh, bảo đảm cho nền kinh tế phát triển để bắt kịp một thế giới toàn cầu hoá đang ra đời.

Cuộc chiến ý thức hệ đó hoàn toàn không những không đem lại một lợi lộc gì cho dân tộc Việt Nam mà đã tiêu phí quá nhiều xương máu và tài nguyên quốc gia. Đặc biệt trong giai đoạn thế giới phát triển với vận tốc nhanh chóng, việc đẩy đất nước vào một chiến tranh vô bổ là phí phạm thời giờ của lịch sử.
Ngày nay, mối đe doạ xâm lược không đến từ các nước Hoa Kỳ hay Tây Phương. Chỉ có những quốc gia to lớn nhưng chậm tiến lạc hậu như Trung Hoa Cộng Sản mới còn mang giấc mộng bành trướng lãnh thổ. Nguy cơ mất đất mất biển ngày nay chính là truyền thống xâm lược hàng ngàn năm của nòi Hán. Lá thư của thủ tướng Phạm văn Đồng năm 1958 gởi cho thủ tưóng Chu Ân Lai mau mắn công nhận chủ quyền lãnh hải của Trung Hoa trong phần biển Việt Nam, cũng như cuộc tấn công xâm lược Hoàng Sa và Trường Sa của hải quân Trung Quốc năm 1974, chiến tranh biên giới 1979, và gần đây nhất, hiệp ước biên giới trên đất liền năm 1999 và hiệp ước phân định Vịnh Bắc Bộ năm 2000, là bằng chứng hùng hồn về nguy cơ nầy.

Thế nhưng, trong suốt thời kỳ chiến tranh chống quân Trung Quốc xâm lăng Hoàng Sa và Trưòng Sa của nhân dân Việt Nam (1974-1975), thay vì đứng về phía dân tộc để bảo vệ tổ quốc, ĐCSVN đã tiếp tay với ngoại địch bằng cách đứng hẳn về phía chiến tuyến của quân xâm lược.
Những sự kiện lịch sử nầy xác định một lần nữa ĐSCVN không hề chiến đấu bởi dân tộc và vì dân tộc. Họ chiến đấu bởi đảng Cộng Sản Quốc Tế và vì đảng Cộng Sản Quốc Tế, bởi ý thừc hệ ngoại bang và vì ý thức hệ ngoại bang. Khi quyền lợi của dân tộc và của đảng Cộng Sản Quốc Tế trùng hợp, như thời kỳ đấu tranh chống Pháp, họ giành lấy ngọn cờ dân tộc để tiêu diệt những người yêu nước không đồng chính kiến. Nhưng khi quyền lợi của dân tộc và của đảng Cộng Sản Quốc Tế mâu thuẩn, như trong trận chiến Hoàng Sa, hay vấn đề tranh chấp biên giói và vịnh bắc bộ gần đây, hay việc áp đặt nền kinh tế Mác Lê lên xã hội Việt Nam, họ nhanh chóng đứng về phía ngoại đảng, bất kể sự khốn cùng và đau khổ của nhân dân, lấy cái bạo tàn của chuyên chính vô sản để đàn áp những tiếng nói phản đối trung thực của những ngưòi yêu nưóc.

Ở đây chúng ta có thấy đưọc một đặc điểm khác của những người Cộng Sản Việt Nam. Trong suốt lịch sử của đảng, quan điểm đấu tranh giai cấp và chuyên chính vô sản làm cho họ hoàn toàn không có khả năng làm hoà với những ngưòi yêu nưóc nhưng khác chính kiến, mặc dù những người đó cùng dòng máu Việt, cùng bọc trăm trứng của cha Rồng mẹ Tiên. Những cuộc đấu tố địa chủ, trí thức, đánh tư sản, ám sát đàn áp đối lập cách tàn nhẫn vô nhân đạo là những chứng cớ rõ ràng về đặc điểm nầy. Thế nhưng họ luôn luôn có khả năng làm hoà với quân ngoại thù. Khi cần thiết, họ có thể chia xẻ giang sơn của tổ tiên với ngoại bang để được bảo hộ về quyền lực.

Đối với đất nước Việt Nam, hiện trạng tụt hậu về kinh tế, hà khắc về chính trị, suy sụp về văn hoá cùng với những mật ước nhượng đất nhượng biển cho Trung Quốc đã chứng minh rằng, chủ nghĩa Mác Lê, từ ngày thống nhất đến nay, hoàn toàn bất lực giúp Việt Nam xây dựng một thể chế dân chủ để bảo toàn lãnh thổ, làm cho kinh tế Việt Nam cất cánh và làm cho văn hoá dân tộc được phục hưng. Cái chủ nghĩa xa lạ đó không có một chút khả năng giúp Việt Nam thành một quốc gia cường thịnh
Ngày nay, ở thế kỷ thứ 21, giáo điều Mác Lê lạc hậu tiếp tục bịt tai những người Công Sản trước yêu cầu phục hưng dân tộc của lịch sử. Họ không nghe được những tiếng kêu gọi đòi canh tân của những Nguyễn Trưòng Tộ thời đại. Đó là những tiếng nói của những người đã đáp lại tiếng kêu gọi của hồn sử, hòa nhịp với những thao thức từ Nguyễn Trưòng Tộ đến Phan Bội Châu, Phan chu Trinh, Nguyễn Thái Học, Nguyễn An Ninh, Lý Đông A, Trưong Tử Anh, Huỳnh Phú Sổ. Đó là những rung động và lãng mạn lịch sử nhất quán xuyên suốt qua bao thế hệ để gìn giữ chất nguyên trinh và chính thống của hồn Việt. Đó là tiếng nói của những người Cộng Sản phản tỉnh như Trần Độ, Nguyễn Thanh Giang, Hà Sĩ Phu, Hoàng Minh Chính, Trần Khuê, Trần Dũng Tiến, Vũ Cao Quận; của những người không CS như Nguyễn Đình Huy; Đoàn Viết Hoạt, Nguyễn Đan Quế hay của thế hệ trẻ như Lê Chí Quang, Nguyễn Khắc Toàn, Nguyễn Vũ Bình, Phạm Hồng Sơn và của nhân dân Việt Nam trong và ngoài nước.

Giấc mơ phục hưng dân tộc và phát triển kinh tế của Nguyễn Trường Tộ ngày xưa, cũng như giấc mơ của bao thế hệ trí tuệ Việt Nam từ đó đến nay vẫn không bao giờ thay đổi. Nhưng khác với Nguyễn Trưòng Tộ ngày xưa bị chết trong quên lãng, để cho đất nưóc rơi vào tay của quân xâm lưọc, những Nguyễn Trưòng Tộ thời đại, sẽ không ngồi yên để tập đoàn “ngưòi vượn do lao động thành ngưòi” tại Ba Đình tiếp tục dẫn đưa đất nước đến chổ tụt hậu và vong thân.
Ngày nay, chìa khóa để mở ra thời đại phát triển kinh tế, phục hưng văn hoá dân tộc và để bảo toàn lãnh thổ nằm trong tính chính thống chính trị của nhà cầm quyền.

Về phương diện chính trị, ý niệm chuyên chính vô sản và đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác Lê là một trở ngại cho việc thiết lập một nền dân chủ chính thống. Lấy khả năng “cướp chính quyền” để xác định tính chính thống lãnh đạo đất nước là quan điểm chính trị của phưòng thảo khấu dưới thời kỳ phong kiến và của băng đảng mafia thời kỳ hiện đại. Quan điểm chính trị nầy hoàn toàn đối nghịch với ý niệm dân chủ. Trong thời đại dân chủ, một chính quyên có năng lực pháp lý phải được xây dựng trên một hiến pháp hợp pháp và dân chủ. Hiến pháp dân chủ đó phải xác định được tính độc lập của ba ngành hành pháp, lập pháp và toà án. Và hiến pháp đó phải được toàn dân chấp thuận qua một cuộc trưng cầu dân ý độc lập và vô tư.
Lá phiếu tự do độc lập và trong sáng của ngừời dân xác định tính chất chính thống, tính hợp pháp của nhà cầm quyền. Nó là biểu tượng của quyền làm chủ của nhân dân. Vì thế, một chính quyền bởi dân do dân và vì dân không bao giờ phải sợ hãi trước lá phiếu. Ngược lại, một chính quyền luôn luôn nơm nớp lo sợ lá phiếu tự do của ngưòi dân, không được toàn dân bầu ra trong một cuộc bầu cử tự do đa nguyên, là chính quyền không có năng lực đạo đức chính trị và tính chính thống để lãnh đạo đất nước.

Đó đó, tái lập tính chính thống, tính hợp pháp của nhà cầm quyền là điều kiện tiên quyết và là nhu cầu cấp bách để xây dựng một nền chính trị dân bản bền vững. Và nền chính trị dân bản bền vững là nền tảng để mở ra thời đại phục hưng dân tộc, làm bệ phóng cho giai đoạn cất cánh về kinh tế toàn dân và để bảo đảm sự toàn vẹn lãnh thổ.
Nhìn lại giai đoạn lịch sử thống nhất đất nước ở thời kỳ hậu Gia Long để thấy rằng cái vòng oan nghiệt của quyền lực tuyệt đối đi đôi với tầm nhìn thiển cận của những đầu óc ngu muội luôn luôn đưa đất nước vào thời kỳ suy vong. Từ hai trăm năm trước đến nay cái vòng kim cô nghiệt ngã đó vẫn tròng lên giòng sinh mệnh của dân tộc.
Ngày nay, chủ nghĩa Mác Lê vẫn là trở ngại lớn nhất trong việc phục hưng dân tộc. Để tháo gở chướng ngại vật to lớn nầy trên đưòng sống của dân tộc, thế hệ mới của Việt Nam trong ngoài nước phải vận dụng trí tuệ để có một tầm nhìn rộng lớn, khai phóng, nhân bản và chính xác về con ngừơi, dân tộc và nhân loại. Do đó, khởi điểm của của vận động phục hưng dân tộc là thực hiện một cuộc vận động và tập hợp thời đại nhằm xây dựng một xã hội dân bản và nhân bản cho tất cả mọi người. Đó yêu cầu cấp bách của lịch sử.

Mỗi lần đến ngày 30 tháng Tư là một cơ hội để chúng ta suy nghĩ về những thất bại lịch sử và để mơ đến “Giấc Mơ Việt Nam”. Để từ những nơi xa xôi trên trái đất đến những trung tâm vận động phục hưng dân tộc ngay tại trong nước, mọi người Việt đều phải cùng nhau chia xẻ một viễn tượng về sinh mệnh dân tộc và hướng đi tới của đất nước. Từ đống tro tàn của lịch sử, những con phương hoàng sẽ cùng nhau cất cánh. Từ đó, mọi người Việt sẽ cùng nhau tái tạo một nước Đại Việt mới, một tổ quốc Đai Việt của thời đại 2000 với không gian Việt trãi dài khắp nơi trên thế giới, một tổ quốc của mọi người mang dòng máu và văn hoá Việt không phân biệt chính kiến, tôn giáo hay bất cứ một quá khứ chính trị nào.

Nguyễn Xuân Phước
Dallas, Texas 30-4-2004

Tài Liệu Tham Khảo:
- Nguyễn Huyền Anh, “Việt Nam Danh Nhân Từ Điển,” Nhà Xuất Bản Khai Trí, Sài Gòn 1967
- Phạm Văn Sơn, “Việt sử Toàn Thư.” Ấn Bản Điện Tử, phatuvietnam.org
- Trần Trọng Kim, “Việt nam Sử Lược,” Nhà Xuất Bản Đại Nam, Los Angeles USA
- Lương Ninh, “Lịch Sử Việt nam Giản Yếu,” Nhà Xuất Bản Chính TRị Quốc Gia. Hà Nội 2000
- Phạm Việt Châu, “Trăm Việt Trên Vùng Định Mệnh,” Nhà Xuất Bản North Falls House, Minneapolis, MN USA 1997
- Nguyễn Phan Quang, “Cuộc Khởi Binh Của Lê Văn Khôi,” Nhà Xuất Bản Thành Phố Hồ Chí Minh, Sài Gòn, Việt Nam 1991
- Nguyên Hương Nguyễn Cúc, “Sài Gòn 300 Năm Cũ,” Tiếng Sông Hương Xuất Bản, Dallas, Texas USA 1999
- Vũ Hữu San, “Trận Chiến Hoàng Sa,” http://vuhuusan.com
- Lê Chí Quang, “Hãy Cảnh Giác Với Bắc Triều,” ấn bản điện tử
- Trần Khuê, “Thư Gởi Tổng Bí Thư Giang Trạch Dân,” ấn bản điện tử
- Nguyễn Minh Cần, “Công Lý Đòi Hỏi”, Nhà Xuất Bản Văn Nghệ,” California USA 1997
- Đoàn Viết Hoạt, “Việt Nam Trong Tầm Nhìn Thế Kỷ 21”, Thế Kỷ 21, Số Tết 2003
- Bùi Tín, “Mây Mù Thế Kỷ,” Đa Nguyên Xuất Bản 1998
- Hà Sĩ Phu, “Chia Tay Ý thức Hệ,” ấn bản điện tử
- Hà Sĩ Phu, “Dắt Tay Nhau Đi Dưới bảng Chỉ Đưòng Của Trí Tuệ,” ấn bản điện tử
- Trần Độ, “Một Chiến Lược Dân Chủ Cho Việt Nam,” ấn bản điện tử.
- Lý Đông A, “Huyết Hoa,” Ấn Bản Điện Tử. http://chinhkhiviet.com
- Lý Đông A, Chu Tri Lục, ấn bản điện tử. http://chinhkhiviet.com
- Nguyễn Chí Thiệp, “Trại Kiên Giam,”
- Hoàng Thanh Đạm, “Nguyễn Trường Tộ Thời Thế và Tư Duy Cách Tân,” Nhà Xuất Bản Văn Nghệ Thành Phố Hồ Chí Minh, Sài Gòn 2001
- Cao huy Thuần, “Đạo Thiên Chúa và Chủ Nghĩa Thực Dân Tại Việt Nam,” Luận Án Tiến Sĩ Quốc gia Khoa Học Chính Trị Đại Học Paris. Hương Quê xuất bản, Los Angeles, USA 1988
- Võ Nhơn Trí, Việt Nam Cần Đổi Mới Thực Sự, Đông Á Xuất Bản, Vancouver, Canada, 2003.
- John O’Sullivan, “Vietnam on the Mind, Understanding then and now,” National Review Online September 9, 2003 http://www.nationalreview.com/jos/jos090903.asp

Khi người dân nổi giận (và nổi dậy)

| comments

Câu chuyện ở đây không phải cuộc cách mạng Hoa Lài ở Bắc Phi hay cách mạng Nhung ở Đông Âu. Đây là câu chuyện ở Hoa Kỳ. Rất đặc thù trong nền dân chủ pháp trị ở Mỹ.



Câu chuyện liên quan đến một nền hành chính địa phương bị một gia đình giàu có thao túng, nhũng lạm. Gia đình nầy cùng với những người làm ăn với họ đã hà hiếp người dân đến mức độ người dân địa phương đã phải đứng lên dùng bạo lực lật đổ chính quyền đó. Đây là một câu chuyện có thật, có một không hai, trong lịch sử nền dân chủ của Hoa Kỳ.
Câu chuyện nầy có tên là "The Battle of Athens" (Cuộc Chiến tại thành phố Athens) nói về cuộc nổi dậy của người dân thành phố Athens và Etowah tại tiểu bang Tennessee nổi lên chống lại chính quyền địa phương vào Tháng Tám năm 1946.

Người dân, gồm những cựu chiến binh trở về sau chiến tranh thế chiến thứ hai, đã tố cáo viên chức địa phương về tội nhũng loạn chính trị và đe doạ cử tri. Câu chuyện thường được dùng để chứng minh quyền mang súng của người dân chống lại bạo quyền.
Từ những năm 1936, người dân Hạt McMinn County nghi ngờ các viên chức của hạt (county) có nhiều hành vi nhũng loạn chính trị địa phương và họ thấy những dấu hiệu các viên chức này đã gian lận trong việc bầu cử. Bộ Công Lý Hoa Kỳ nhiều lần điều tra nhưng không đưa ra kết quả cụ thể.
Năm 1936 Paul Cantrell là một chính trị gia thuộc đảng Dân Chủ xuất hiện tranh cử ghế cảnh sát trưởng tại hạt McMinn, Tennessee. Paul Cantrell xuất thân từ một gia đình giàu có, nhờ vào lợi thế của đảng Dân Chủ lúc bấy giờ dưới thời Tổng thống Franklin Roosevelt, nên đã trúng cử. Paul Cantrell làm cảnh sát trưởng từ 1936 đến 1942. Sau đó trúng cử dân biểu liên bang năm 1942, 1944. Ghế cảnh sát trưởng được Paul Cantrell nhường lại cho người phụ tá là Pat Mansfield.


Đám đông tụ tập tại nhà tù, Athens, Tiểu Bang Tennessee, 1946 - Nguồn Tennessee.gov

Hệ thống cảnh sát quận hạt McMinn sống nhờ vào tiền phạt vạ người dân. Càng nhiều người bị bắt, cảnh sát kiếm được nhiều tiền. Một hệ thống làm tiền mà người cảnh sát đượïc thưởng theo số lượng hình phạt giống như những người bán hàng. Xe hành khách đi ngang qua hạt McMinn thường bị cảnh sát chận lại và hành khách thường bị phạt tội uống rượu dù họ có tội hay không. Những người hành khách vô tội, ở xa không thể ra toà tại McMinn, đành phải đóng tiền để tránh phiền phức và tù tội. Nhờ đó, những quan chức ở Sở Cảnh Sát hạt giàu có lên. Ngoài ra, Cantrell bao che cho các hoạt động của các sòng bài bất hợp pháp tại địa phương. Cantrell hành xử như một bố già Mafia và trở thành hung thần của người dân tại hạt McMinn. Và các đối thủ chính trị không dám ra mặt chống đối lại quyền lực của Cantrell.

Trong cuộc bầu cử năm 1946, Paul Cantrell trở lại làm ứng cử viên ghế cảnh sát trưởng và Pat Mansfield trở thành ứng cử viên ghế dân biểu tiểu bang.
Sau khi Thế chiến Thứ hai chấm dứt năm 1945, khoảng 3,000 cựu chiến binh trở về McMinn County. Không khí chính trị tại McMinn County trở thành ngột ngạt vì những hành vi của bộ hạ của Cantrell đã đụng chạm đến quyền lợi những cựu chiến binh và họ bắt đầu có thái độ chống lại hệ thống cai trị của Cantrell. Một số cựu chiến binh tập họp lại đưa ra ứng cử viên của họ để đối phó với Paul Cantrell và guồng máy chính trị của Cantrell.

Ngày 1 tháng Tám năm 1946 phòng phiếu được mở cửa. Khoảng 200 cảnh sát viên đượïc trang bị vũ khí đi tuần hành các khu bầu cử.
Một số mâu thuẫn xảy ra trước khi phòng phiếu đóng cửa. Mâu thuẫn quan trọng nhất là khi Tom Gillespie, một người da đen bị cảnh sát viên C.M. Wise bắn sau lưng sau khi bỏ phiếu và có cãi cọ với cảnh sát.


Các cựu chiến binh - Nguồn Tennessee.gov

Khi phòng phiếu đóng cửa, các cảnh sát viên đưa các thùng phiếu về nhà tù thay vì đưa về văn phòng của County. Các cựu chiến binh cùng kéo nhau đến bao vây nhà tù. Một số cựu chiến binh phá rào cướp kho súng của trại vệ binh quốc gia. Người ta ước lượng khoảng 2,000 cựu chiến binh có trang bị vũ khí tham gia bao vây trại tù lúc bấy giờ.
Trong lúc đó, trại tù được bảo vệ bởi 50 cảnh sát viên. Các cựu chiến binh đòi các thùng phiếu đưa về văn phòng County để kiểm phiếu một cách minh bạch nhưng bị từ chối. Họ bắt đầu nổ súng vào phía nhà tù, khởi động cuộc chiến kéo dài vài giờ. Sau đó cửa nhà tù bị đặt mìn và bị phá tung. Nhiều cảnh sát viên bảo vệ nhà tù bị thương và phải đầu hàng. Các thùng phiếu được các cựu chiến binh thu hồi.
Khi cuộc vây hãm nhà tù tiến hành, thì người dân nổi loạn khắp nơi trong thành phố nhắm vào xe cảnh sát. Cuộc nổi loạn kéo dài đến sáng ngày hôm sau.

Sau cuộc nổi dậy, các thùng phiếu được kiểm, và 5 ứng cử viên của cựu chiến binh đã trúng cử. Sau đó, các sòng bài lậu do guồng máy hành chính của Paul Cantrell đỡ đầu bị tấn công và đóng cửa.
Khi năm cựu chiến binh nắm được quyền hành guồng máy hành chính của hạt McMinn, họ bắt đầu tháo gỡ nhân sự của Paul Cantrell. Hàng loạt cảnh sát, quản trị viên của hạt phải từ chức. Chính sách sử dụng hình phạt như là nguồn ngân sách chính yếu cho quận hạt cũng bị bãi bỏ. Lương cảnh sát địa phương không còn được dựa vào số phiếu phạt (tickets), mà bị giới hạn là $5,000 một năm (thời điểm 1946).
Câu chuyện Cuộc Chiến Tại Athens được dàn dựng thành phim chiếu trên TV và được đề nghị giải Emmy Award năm 1993.

Xuyên qua câu chuyện Cuộc Chiến Tại Athens, chúng ta thấy rằng dù tại Hoa Kỳ có một thể chế dân chủ khá hoàn hảo, guồng máy chính trị và hành chính địa phương có thể bị quan chức thao túng thông qua việc gian lận bầu cử.
Bầu cử là cửa ngõ để bước vào toà nhà dân chủ. Khi bầu cử bị gian lận thì nền dân chủ tan vỡ. Việc người dân võ trang chống lại nhà nước tại Hoa Kỳ là hành động phạm pháp. Nhưng trong những trường hợp như thế nầy, người dân phải vượt qua lằn ranh luật pháp để phục hồi lại trật tự và sự ổn định của xã hội.

Nguyễn Xuân Phước

Bàn về khái niệm “Tổ quốc XHCN” của người cộng sản VN

| comments

Để kỷ niệm 1000 năm Thăng Long

Tại sao phải đặt lại vấn đề “Tổ quốc”.

 “Tổ quốc” là một khái niệm rất quen thuộc trong ngôn ngữ Việt Nam. Đại tự điển tiếng Việt[1] định nghĩa “Tổ quốc” là “Đất nước, gắn liền với bao thế hệ ông cha, tổ tiên của mình: xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tổ quốc Việt Nam của chúng ta.” Vấn đề tưởng như rất đơn giản nhưng lại không đơn giản!


Từ khi chủ nghĩa cộng sản Mác-Lênin du nhập vào Việt Nam, khái niệm “Tổ quốc” được hiểu một cách hoàn toàn khác với lối hiểu thông thường.Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định khái niệm “Tổ quốc xã hội chủ nghĩa” như sau:
Từ khi Đảng Cộng sản Đông Dương thành lập, nhân dân Việt Nam ta luôn hướng về Liên Xô, đất nước của Lênin vĩ đại và coi Liên Xô là Tổ quốc của cách mạng, Tổ quốc thứ hai của mình[2].
Quan điểm này được những người cộng sản Việt Nam coi là nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh về Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Trong truyền thống đó, ông Nguyễn Phú Trọng, GS TS Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam, nhận định về khái niệm “Tổ quốc” như sau:
Khái niệm bảo vệ Tổ quốc cũng được xác định đầy đủ hơn: bảo vệ Tổ quốc không chỉ là bảo vệ lãnh thổ, biên giới, hải đảo, vùng trời, vùng biển mà còn là bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân; bảo vệ kinh tế, văn hóa dân tộc, bảo vệ sự nghiệp đổi mới…[3]

Vì Nguyễn Phú Trọng là nhân vật quan trọng trong giới lãnh đạo Đảng CSVN, chúng ta cần giải mã và làm sáng tỏ khái niệm “Tổ quốc” mà Hồ Chí Minh đã rao truyền; đồng thời xét đến những hệ lụy từ việc định nghĩa “Tổ quốc” mà không có “ông cha, tổ tiên của mình” qua khái niệm “bảo vệ Tổ quốc” đã được “xác định đầy đủ hơn” của Nguyễn Phú Trọng.

Khái niệm “Tổ quốc” của người cộng sản

Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản Marx tuyên bố là “người vô sản không có tổ quốc”.[4] Nhưng sau Cách mạng tháng Mười năm 1917, dưới sự lãnh đạo của Lenin, Đảng Cộng sản thiết lập chính thể Sô-viết tại Nga, và Lenin đã bổ sung ý niệm “người vô sản không có tổ quốc” của Marx bằng khái niệm “tổ quốc xã hội chủ nghĩa”. Có nghĩa là từ khi có Cách mạng tháng Mười, người vô sản mới có được “Tổ quốc”, đó là Liên Xô.

Lenin giải thích khái niệm Tổ quốc như sau:

Tổ quốc là một sản phẩm cần thiết, và mô hình không tránh được, trong thời đại phát triển xã hội của giai cấp tư sản. Giai cấp công nhân không thể lớn mạnh, không thể trưởng thành, không thể tập trung sức mạnh, trừ khi “họ xây dựng họ thành một “Tổ quốc”, mà không trở thành dân tộc [national] (dù không phải theo ý nghĩa của giai cấp tư sản).[5]

Tổ quốc xã hội chủ nghĩa theo Lênin là tổ quốc của người vô sản ở khắp nơi trên thế giới, không gắn liền với đất đai của tổ tiên cha ông và không chấp nhận sự tồn tại của các giai cấp khác trong xã hội.
Theo trung tướng PGS, TS Nguyễn Tiến Bình thì:
Thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Mười đã dẫn đến sự ra đời của Tổ quốc XHCN – một Tổ quốc kiểu mới trong lịch sử nhân loại được đặc trưng bởi chế độ xã hội XHCN, trong đó giai cấp công nhân và nhân dân lao động làm chủ xã hội đồng thời làm chủ Tổ quốc.[6]
Tổ quốc xã hội chủ nghĩa này đã phủ định khái niệm Tổ quốc kiểu cũ, là loại Tổ quốc của giai cấp tư sản luôn luôn gắn đất nước, gắn liền với bao thế hệ ông cha, tổ tiên của mình.

Mâu thuẫn về “Tổ quốc xã hội chủ nghĩa”

Trung thành với hai tổ quốc không phải là điều khó. Khó là khi quyền lợi của hai tổ quốc đó mâu thuẫn với nhau.Trường hợp mâu thuẫn giữa Liên Xô và Trung Quốc là một bài học đáng để ý.
Sau khi cướp chính quyền ở lục địa Trung Hoa, Mao sớm hiểu rõ khái niệm “Tổ quốc xã hội chủ nghĩa” của Liên Xô chỉ là cái bánh vẽ. Mao thấy được âm mưu của Liên Xô dựa vào khối XHCN để trở thành một đế quốc mới. Do đó, Mao không ngần ngại vứt khái niệm “Tổ quốc xã hội chủ nghĩa” của Lenin vào sọt rác, quay ra chống lại Liên Xô và tố cáo Liên Xô theo chủ nghĩa Sô-vanh nước lớn để áp chế các nước nhỏ. Mâu thuẫn giữa hai nước đàn anh XHCN đã đưa đến những đụng độ biên giới đẫm máu từ 1959 và kéo dài cho đến ngày tàn của Liên Xô năm 1991.

Trường hợp của Đảng CSVN và Trung Quốc cũng là một bài học đáng để ý.Trong thời gian tranh chấp giữa Trung Quốc và Liên Xô, do nhu cầu tiếp nhận viện trợ của cả Liên Xô và Trung Quốc để phục vụ chiến tranh nên Đảng CSVN phải cố gắng đi dây giữa hai lằn đạn, thân thiện với cả hai bên cho đến khi chiến tranh chấm dứt.

Sau năm 1975, Đảng CSVN quyết định đi hẳn vào quĩ đạo Liên Xô và quay mặt chống Trung Quốc. Hậu quả là Việt Nam bị sa lầy vào chiến trường Campuchia khi Trung Quốc gia tăng viện trợ cho Pol Pot để chống lại tập đoàn Hunsen do Việt Nam bảo hộ. Đồng thời Trung Quốc mở cuộc chiến biên giới Việt-Trung năm 1979, để dạy cho Đảng CSVN một bài học về thái độ phản trắc của Việt Nam.

Tái xây dựng “Tổ quốc xã hội chủ nghĩa” sau khi Liên Xô sụp đổ

Sự phá sản toàn diện của Liên Xô năm 1991 là một biến cố bất ngờ đối với Đảng CSVN.
Trong những giây phút hấp hối của Tổ quốc xã hội chủ nghĩa Liên Xô, Đảng CSVN đã tìm đến kẻ cựu thù là Trung Quốc để tìm cách bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Trong buổi họp của Bộ Chính trị ngày 10/4/1990 với sự hiện diện của Nguyễn Văn Linh, Lê Đức Anh, Đào Duy Tùng, Đồng Sĩ Nguyên, Đảng CSVN đã thấy rằng con đường duy nhất để cứu vãn tổ quốc xã hội chủ nghĩa là phải liên kết với Trung Quốc.[7]

Nhưng làm thế nào Đảng CSVN có thể liên kết với Trung Quốc với một hiến pháp ghi đích danh Trung Quốc là kẻ thù của dân tộc? Xin thưa, phải tự tạo ảo tưởng. Cái ảo tưởng đó được Trần Quang Cơ, cựu Thứ trưởng Ngoại giao, giải thích như sau:
Ta đã tự tạo ra ảo tưởng là Trung Quốc sẽ giương cao ngọn cờ CNXH, thay thế cho Liên Xô làm chỗ dựa vững chắc cho cách mạng Việt Nam và chủ nghĩa xã hội thế giới.[8]
Nói theo ngôn ngữ của Hồ Chí Minh, chiến lược bảo vệ chủ nghĩa xã hội thế giới của Bộ Chính trị Đảng CSVN thời điểm 1990 là Trung Quốc sẽ thay thế Liên Xô để làm “Tổ quốc thứ hai” của người cộng sản Việt Nam. Nhưng từ năm 1950 Trung Quốc đã không còn tin vào “Tổ quốc xã hội chủ nghĩa” của Liên Xô. Và sau khi thành công với bốn hiện đại hoá, Trung Quốc trở thành một ác quỉ ở Á châu.

Hậu quả của cái ảo tưởng ôm lấy một con ác quỉ để làm chỗ dựa vững chắc cho cách mạng Việt Nam và chủ nghĩa xã hội thế giới đã đem lại bao nhiêu thảm hoạ cho dân tộc Việt Nam.  Với thái độ hèn nhát thần phục Bắc Kinh, Đảng CSVN đã mở đường cho Trung Quốc ào ạt chiếm đất chiếm biển của Việt Nam qua những hiệp định phân chia biên giới, hiệp định Vịnh Bắc Bộ năm 2000, và cuộc xâm lăng quân sự trên biển Đông Nam Á để chiếm Hoàng Sa và Trường Sa. Trung Quốc trắng trợn bắn giết ngư phủ Việt Nam ngoài khơi Quảng Nam, Quãng Ngãi, thiết lập tô giới Bauxite tại Tây Nguyên, khai thác hàng ngàn hécta rừng ở các tỉnh biên giới, và ngang nhiên thiết lập các làng mạc Trung Quốc tại Việt Nam.

Vài suy nghĩ

1. Từ “Tổ quốc xã hội chủ nghĩa” đến “Đề cương văn hoá” 1943
“Đề cương văn hoá” năm 1943 là văn kiện quan trọng đầu tiên của Đảng CSVN do Trường Chinh soạn thảo và được coi là kim chỉ nam định hướng cho cuộc cách mạng xã hội tại Việt Nam dưới “ánh sáng” của tư tưởng Mác-Lênin. Luận về Tính chất của nền văn hóa mới Việt-nam, Trường Chinh viết như sau:
Văn hóa mới V. N. do đảng C. S. Đ. D. lãnh đạo chủ trương chưa phải là văn hóa xã hội chủ nghĩa hay văn hóa Xô-viết (như văn hóa Liên xô chẳng hạn)[9]
Cụm từ chưa phải là phải được hiểu là tình trạng chưa thành hình của một cái gì sẽ thành trong tương lai. Văn hoá mới là khởi điểm và văn hoá Sô-viết là đích đến. Ở đây Trường Chinh xác định rằng nền văn hoá mới của Việt Nam do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo là sẽ trở thành văn hoá Sô-viết trong tương lai.

Để đảm bảo quá trình này, theo Trường Chinh, “Văn hóa mới V. N. là một thứ văn hóa có tính chất dân tộc về hình thức và tân dân chủ về nội dung.”[10]
Trong khi người Việt chưa biết hình dáng của văn hoá tân dân chủ như thế nào mà Đảng CSVN đã định hướng lấy văn hoá dân tộc làm bình phong cho một thứ văn hoá mới thì quả lả một cuộc phiêu lưu để xoá sổ văn hoá dân tộc. Tâm thức nô lệ văn hoá ngoại bang bắt nguồn từ đây.
Hậu quả của tâm thức nô lệ này là văn hoá dân tộc vốn đã bị xâm thực bởi văn hoá Liên Xô trước đây, đang bị bào mòn bởi văn hoá Trung Quốc dưới nhãn hiệu văn hoá xã hội chủ nghĩa hay tân dân chủ. Điều này giải thích tại sao kỷ niệm 1000 năm Thăng Long của dân Việt năm 2010 mang đậm tính chất văn hoá Trung Quốc.

2. Việt điểu sào nam chi

Khi bàn về câu chuyện “Không quên cái cũ”, Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc trong Cổ học tinh hoa viết như sau:
Ôi! Cáo chết ba năm quay đầu về núi, con người ta, dù cho lông bông xiêu bạt đến thế nào, còn có chút tâm tình cũng không sao quên được gốc tích xứ sở mình. “Hồ mã tê bắc phong, Việt điểu sào nam chi”. Con ngựa rợ Hồ (phía bắc nước Tàu) thấy gió bắc còn cất tiếng kêu, con chim đất Việt (phía nam nước Tàu) chọn cành nam mới chịu làm tổ, huống chi là người mà lại quên được nguồn gốc ư.[11]

Tổ quốc là gốc tích xứ sở mình, gắn liền với đất nước của ông bà tổ tiên mình. Chim Việt thì đậu cành nam. Nhà cách mạng Phan Bội Châu lấy hiệu là Sào Nam để nói lên tấm lòng suốt đời hướng về tổ quốc Việt Nam của ông. Cáo, ngựa, chim còn biết nhớ đến nguồn gốc huống chi là con người.
Thế nhưng trong bản di chúc để lại cho hậu thế, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết như sau:
Vì vậy tôi để sẵn mấy lời này, phòng khi tôi sẽ đi gặp cụ Các Mác, cụ Lênin và các vị cách mạng đàn anh khác, thì đồng bào cả nước, đồng chí trong Đảng và bầu bạn khắp nơi đều khỏi cảm thấy đột ngột.[12]

Ước muốn đi gặp cụ Các Mác, cụ Lênin khi chết là ước mơ chính đáng của người cộng sản.   Nhưng lịch sử dân tộc sẽ phán xét Hồ Chí Minh để xem ông coi Tổ quốc nào là quan trọng.  Đồng thời lịch sử sẽ xét xem mục đích cuộc đời cách mạng của ông là đem lại sự giàu có thịnh vượng và hạnh phúc cho Tổ quốc Việt Nam như Minh trị Thiên hoàng đã làm cho Nhật Bản, hay đem máu xương của thanh niên Việt Nam phục vụ cho Tổ quốc xã hội chủ nghĩa dưới ngọn cờ dân tộc.

Kết luận

Sau khi thoát ra khỏi chế độ thực dân của Pháp, dân tộc Việt lại bắt đầu một giai đoạn vong thân với những khái niệm mơ hồ về Tổ quốc và văn hoá dân tộc.
Đã đến lúc người yêu nước phải vứt bỏ khái niệm “Tổ quốc xã hội chủ nghĩa” để trở về với Tổ quốc Việt Nam và phục hoạt văn hoá dân tộc. Phải dứt khoát xác định không có Tổ quốc nào đứng trên Tổ quốc Việt Nam, và Tổ quốc Việt Nam phải trên hết.

Đã đến lúc người Việt Nam chân chính trong đảng hay ngoài đảng phải dứt khoát vứt “Đề cương văn hoá” của Trường Chinh vào sọt rác vì nó chính là nọc độc hủy hoại văn hoá Việt Nam, nô lệ hoá văn hoá Việt Nam suốt 65 năm nay bằng văn hoá ngoại bang. Không có thứ văn hoá tân dân chủ hay xã hội chủ nghĩa nào có thể thay thế được văn hoá ngàn đời của dân tộc Việt Nam.
Chỉ có một cuộc cách mạng chân chính duy nhất mà dân tộc Việt Nam ước mơ từ hơn một thế kỷ qua, đó là cuộc cách mạng phục hưng dân tộc và phục hoạt văn hoá để đưa dân tộc Việt Nam cất cánh ở thế kỷ 21.

Phải dứt khoát xác định, ngoài nhân dân Việt Nam, không có một ngoại bang nào là chỗ dựa vững chắc cho cách mạng Việt Nam. Chỉ có những cuộc cách mạng phản dân tộc mới phải dựa vào sức mạnh của ngoại bang và kẻ thù truyền kiếp của dân tộc.
Đối với người dân Việt Nam chỉ có một Tổ quốc duy nhất, đó là Tổ quốc Việt Nam. Không có cái gì gọi là “Tổ quốc xã hội chủ nghĩa”, “Tổ quốc Liên Xô”, “Tổ quốc phong kiến”, hay “Tổ quốc của giai cấp tư sản”. Tổ quốc Việt Nam là Tổ quốc của mọi giai cấp, kể cả giai cấp tư sản hay vô sản. Tất cả các khái niệm Tổ quốc khác đều là bịp bợm. Cái gọi là “Tổ quốc xã hội chủ nghĩa” hiện nay chỉ là vỏ bọc của “Đại Hán thiên triều chủ nghĩa” của Trung Quốc để cướp đất cướp biển và triệt tiêu văn hoá của Việt Nam.

Khi có mâu thuẫn với các nước khác, người Việt phải đứng trên lập trường của dân tộc Việt để giải quyết mọi vấn đề liên quan đến lợi ích và quyền lợi của dân tộc.
Chỉ có lúc đó, Việt Nam mới thực sự có độc lập chính trị và bảo toàn được đất nước và phục hưng được nền văn hoá của tổ tiên, cha ông để lại.
Chỉ có lúc đó, vấn đề Biển Đông, Hoàng Sa – Trường Sa mới được giải quyết thỏa đáng.

 Nguyễn Xuân Phước
 —————————————————-
Ghi chú:
[1] Đại từ điển tiếng Việt, Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hoá Việt Nam thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo soạn thảo, Nhà Xuất bản Văn hoá Thông Tin ấn hành năm 1998, trang 1663
[2] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 11, trang 166
[3] Nguyễn Phú Trọng: “Sự phát triển nhận thức của Đảng ta từ Cương lĩnh năm 1991 đến nay”, Sài Gòn Giải phóng ngày 4 tháng 5 năm 2010
[4] C. Mác và Ph. Ăng-ghen, toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 623
[5] Roman Rosdolsky, The Workers and the Fatherland, A Note on a Passage in the “Communist Manifesto“
[6] TS Nguyễn Tiến Bình, “Cách mạng Tháng Mười và một số vấn đề chiến lược bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa”, Tạp chí Cộng sản Số 19 (139) năm 2007
[7] Trần Quang Cơ: Hồi ức và suy nghĩ, trang 61
[8] Trần Quang Cơ, sách đã dẫn, trang 61
[9] Trường Chinh, “Đề cương văn hoá” 1943
[10] Trường Chinh, bài đã dẫn
[11] Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc: “Không quên cái cũ”, Cổ học tinh hoa
[12] Di chúc Hồ Chí Minh

Bàn Về Hai Chữ “Văn Minh”

Thứ Sáu, 5 tháng 9, 2014 | comments

Văn minh nghĩ lại còn nhiều việc
Lý Đông A
I.
“Sau năm 1975, đảng Cộng Sản Việt Nam thống nhất đất nước, ngọn cờ “giải phóng” và “dân tộc” được sử dụng trong thời kỳ chiến tranh được xếp qua một bên, Đảng Cộng Sản VN được rảnh tay, lại vận động “chủ nghĩa yêu nước” để thực hiện sứ mệnh cách mạng vô sản. Một chế độ độc tài toàn trị được thiết lập trên toàn đất nước.


 Với nhiệt tình thôi thúc từ  ngọn lửa cách mạng Tháng Mười của Nga, với kinh nghiệm cải cách ruộng đất miền Bắc năm 1956 học tập từ Trung Cộng, đảng cộng sản Việt Nam đã thực hiện chính sách đánh tư sản mại bản, đốt sách để tiêu diệt văn hoá phẩm, được gọi là “đồi trụy” của miền Nam, tịch thu ruộng đất để tập thể/hợp tác hoá nông nghiệp, đổi tiền, quốc hữu hoá tài sản nhân dân trên toàn quốc…  Giấc mơ giải phóng Việt Nam khỏi bàn tay của đế quốc để biến Việt Nam thành một nước Cộng Sản của các tiền bối cách mạng cộng sản Việt Nam từ đầu thế kỷ 20 đã trở thành sự thật.

Sau thời kỳ phát động khẩu hiệu “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên xã hội chủ nghĩa“, những người cộng sản VN khám phá ra rằng tiến nhanh tiến mạnh lên xã hội chủ nghĩa là một hành trình khó khăn.  Sư thực hiện chủ nghĩa Cộng Sản chẳng những không làm cho đất nước tiến được vững chắc, mà còn lùi nhanh lùi mạnh.  Trên thực  tế, quá trình cải tạo và xây dựng  xã hội chủ nghĩa đó đã làm cho đất nước điêu tàn, nhân dân  nghèo đói và đưa đất nước đến bến bờ phá sản.

Trong tình trạng bế tắc của mâu thuẫn nội tại xã hội chực chờ bùng nổ, tại Liên Sô tổng bí thư Gorbachev phải đưa ra chính sách Glasnost & Perestroika để cứu vãn đất nước và hệ thống XHCN ở Đông Âu.  Trong giai đoạn  thập tử nhất sinh đó,  dưới ảnh hưởng và áp lực của Liên Sô, đảng Cộng Sản Việt Nam đã phải đưa ra chính sách “đổi mới” qua Đại hội VI năm 1996 để tìm đường thoát hiểm.

Từ đại hội VI năm 1996, cương lĩnh của ĐCSVN bổ xung thêm những đặc trưng XHCN mà Mác-Engel chưa từng đề cập tới. Đặc trưng số một trong tám đặc trưng quan trọng nhất của cương lĩnh của đại hội VI là “Dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh“.  Cho đến đại hội XI năm 2011 vừa qua, cương lĩnh chính trị của ĐCSVN cũng tái xác nhận đặc trưng“Dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh”  là mục tiêu hàng đầu của đảng, và là khẩu hiệu để tuyên truyền xây dựng đất nước.

Hãy tạm để qua mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh“, khẩu hiệu kêu gọi toàn dân xây dựng đất nước”công bằng dân chủ văn minh” phản ảnh mơ ước của hằng bao thế hệ Việt Nam hơn 100 năm nay.  Từ mối nhục mất nước vào tay thực dân Pháp, đến sự tàn phá của chiến tranh giành độc lập và chiến tranh Quốc Cộng, đến thời kỳ tăm tối để tiến lên xã hội chủ nghĩa làm đất nước thụt lùi cả  hàng nhiều thập kỷ  so với các nước lâng bang, không một người Việt nào không có giấc mơ được sống công bằng dân chủ văn minh như các quốc gia tân tiến khác trên trên thế giới.
Một mặt đảng cộng sản kiên trì bảo vệ nền độc tài độc đảng để khống chế xã hội và con người; mặt khác đảng mời gọi mọi người  xây dựng một xã hội công bằng dân chủ văn minh.  Sự thể nầy đặt lại vấn đề rất căn bản là liệu chế độ cộng sản có thể xây dựng một đất nước có công bằng dân chủ văn minh hay không?

II.
Chúng ta quen sử dụng hai chữ văn minh để chỉ dấu cho sự tiến bộ của con người và xã hội.  Nhưng một con người văn minh là gì?  Một xã hội văn minh là gì?
“Văn” là “đẹp” và “minh” là “sáng”.  Nguyên nghĩa của “văn minh” có nghĩa là “sáng đẹp”.  Nhưng thế nào là một con người hay xã hội sáng đẹp?
Tự điển bách khoa mở định nghĩa và diễn giải hai chữ “văn minh” như sau:
Văn minh là sự kết hợp đầy đủ các yếu tố tiên tiến tại thời điểm xét đến để tạo nên, duy trì, vận hành và tiến hoá xã hội loài người. Các yếu tố của văn minh có thể hiểu gọn lại là di sản tích luỹ tri thức, tinh thần và vật chất của con người kể từ khi loài người được hình thành cho đến thời điểm xét đến. Đối nghịch với văn minh là hoang dã, man rợ, lạc hậu. Khái niệm văn minh chỉ mang tính tương đối, có tính so sánh tại thời điểm xét đến mà không có giá trị tuyệt đối.

Ý niệm “văn minh” do đó, là sự “sáng đẹp” đi liền với sự duy trì vận động và tiến hoá của xã hội loài người.  Đó là một vận động hướng thượng để đưa loài người lên một trình độ cao hơn, đẹp hơn, gần với những giá trị nhân bản hơn, và xa cách đời sống dã man của động vật trong thiên nhiên hơn.

III.
Sự hình thành đời sống người từ thời hồng hoang đến nay là một một cuộc vật lộn liên tục giữa con người với xã hội và thiên nhiên.  Từ thời kỳ sống trong hang, hái lượm trái cây, sống lẫn ở lẫn với thiên nhiên và các loại cầm thú khác, loài người ý thức được nhân tính và dần dà tách ra khỏi đời sống thiên nhiên để thực hiện đời sống người.

Nhà cách mạng Lý Đông A trong tài liệu Duy Nhân Cương Thường cho rằng sự xuất hiện của nhân thể (human form) chưa phải là sự thành hình đời sống người trong ý nghĩa đối nghịch với đời sống cầm thú.   Do đó, sự xuất hiện của tập đoàn sinh vật có nhân thể chỉ là sự xuất hiện của người dự bị, hay ngợm sắp thành người.

Lý Đông A cho rằng nhân thể trở thành người khi tập đoàn nhân thể đó biết tái sản xuất sản xuất của tự nhiên như biết trồng trọt, chăn nuôi, nướng thịt – mà ông gọi là tái sản xuất cái sản xuất của tự nhiên; và biết tu chỉnh lối sinh sản đực-cái của thú vật để chuyển thành lối sinh sản chồng-vợ và thành lập gia đình – mà ông gọi là tái sinh sản cái sinh sản của tự nhiên.  Ông cũng cho rằng loài người tiếp tục tu chỉnh cách sống chung kiểu bầy đoàn thú vật “mạnh được yếu thua, khôn sống mống chết” để chuyển thành cách “sống còn, nối, tiến hóa đến vô cùng”, để thành lập xã hội loài người, và luôn luôn tăng tiến hiệu xuất của xã hội theo chiều hướng thuợng, “ngày một mới” – mà ông gọi là tái hiệu xuất cái hiệu xuất của xã hội và lịch sử.

Lý Đông A cho rằng chính sự kiện tập đoàn nhân thể thời hồng hoang biết cải biến thiên nhiên để phục vụ cho mình chính là cuộc cách mạng đầu tiên đưa bầy đoàn ngợm thành xã hội người, và lập thành nhân đạo.  Nhân đạo là cách sống và đường sống đặc thù của loài người khác loài vật.
Quá trình chung sống thông qua giai đoạn cách mạng nông nghiệp và xã hội đầu tiên đó của loài người nẩy sinh ra những qui luật để taọ ra đời sống người.  Qua quá trình tiến hóa đó sinh vật gọi là người trên nhân thể trở thành người có nhân tính và nhân đạo.  Nhân đạo và nhân tính là yếu tính đương nhiên của xã hội loài người, nếu không thì đó là một bầy đoàn thú vật.

Lý Đông A gọi xã hội đầu tiên có nhân tính đó là ‘xã hội tự tính”.  “Xã hội tự tính” đó phải trải qua thời gian và điều kiện không gian để phát huy và phát triển. Lịch sử, theo Lý Đông A, là lịch sử nhân đạo, là quá trình hiện thực hóa “xã hội tự tính” qua thời gian và không gian.

Qua cuộc sống thực tiễn, tích lũy kinh nghiêm sống còn, nối, tiến hóa của hàng triệu năm, con người, dù đông phương hay tây phương, đã dần dần chuyển được tính sống còn tự nhiên của mọi loài sinh vật thành nhân tính đặc thù của loài người. Quá trình đó tạo thành đường sống đặc thù của loài người mà ngày nay chúng ta gọi là nhân đạo. Chính sự xuất hiện của nhân đạo và nhân tính mới làm cho loài người khác với loài vật. Chính “xã hội tự tính” làm nên xã hội loài người, khác với bầy đoàn thú vật. Xây dựng một xã hội văn minh là xây dựng một xã hội Người, theo nhân đạo, có nhân tính.
Phân tích cụ thể hơn, Lý Đông A thấy rằng, qua thời gian, nhân tính được thể hiện trên ba mặt, Trinh-Bình-Hòa:

-  Trong quan hệ giữa người và người, nhân tính yêu cầu có chữ trinh để nói lên sự trung thành với nhau.  Trung thành, trung trinh là chất keo sơn để kết hợp xã hội.  Do đó từ quan hệ đực cái của loài vật, nhân tính đòi hỏi vợ chồng phải lấy chữ trinh làm gốc khi thành lập đời sống người.  Và cũng dựa trên nguyên lý trung trinh, xã hội thiết lập định chế hôn nhân để thực hiện và bảo vệ sự trung thành đó và để bảo lưu huyết thống được sinh tồn tục, lâu dài và bền vững.  Do đó, nhân tính đầu tiên là sự trung trinh, Trinh.
-  Để giải quyết nhu cầu  ăn, mặc, ở, nhân tính chối bỏ quy luật của thiên tính tự nhiên là mạnh đưọc yếu thua, giành miếng ăn hay áo mặc.  Nhân tính hướng dẫn con người giải quyết nhu cầu sinh thực bằng sự mãn thích nhu yếu cách đồng đều.  Do đó, con người có nhân tính biết chia cơm xẻ áo cho người nghèo đói.  Đó là ý nghĩa chữ Bình.
-  Khi có mâu thuẫn giữa người và người, khi người không tôn trọng sự trung thành với nhau, khi loài người giành miếng ăn để đồng loại chết đói, hay nói cách khác, khi thú tính trội hơn nhân tính, chiến tranh sẽ xảy ra.  Khi có mâu thuẩn hay chiến tranh nhân tính đòi hỏi con người phải giải quyết xung đột bằng sự hoà giải.  Đó là ý nghĩa chữ Hoà.

Cho nên một xã hội văn minh đúng nghĩa là phải thực hiện được nhân tính Trinh-Bình-Hòa trong đời sống người.  Một xã hội văn minh đưa dẫn con người đến chổ hoàn thiện “trinh bình hoà” trong quan hệ giữa người và người. Và xã hội văn minh chính là xã hội đã xa rời xã hội dã man của loài cầm thú, luôn hướng đến và cải tiến cách thực hiện ba nhân tính cỗi gốc này của xã hội tự tính.

IV.
Chú nghĩa Mác-Engel cho rằng người vượn biến thành người là do quá trình lao động hàng triệu năm.  Chưa nói tới giá trị của thuyết tiến hoá trong sự hình thành loài người, chủ nghĩa Mác-Engel lấy một số nguyên tắc xã hội cộng sản nguyên thủy làm mô hình lý tưởng để hướng đến xây dựng xã hội Cộng Sản tương lai thông qua  sự thiết lập nền độc tài của giai cấp vô sản.
Marx, vì dựa trên qui luật của tự nhiên, nên chỉ thấy lao động là xuất phát điểm của đời sống người.  Mác không hề nhận thức được loài người thành lập là do sự xuất hiện của nhân tính.  Trong tư tưởng Mác-Engel không có sự nhận thức về nhân tính.  Kinh điển Mác-Engel không có sự mặc nhận nhân tính như là xuất phát điểm của đời sống người.  Vì thế Mác lấy xã hội cộng sản nguyên thủy làm xuất phát điểm của xã hội loài người, và chấp nhận có phương thức kinh tế tự nhiên, trong khi đây chỉ là  xã hội của một tập đoàn người vượn chỉ biết lao động, hái lượm theo bản năng tự nhiên, khi nhân tính chưa xuất hiện, và xã hội đó chỉ là tập hợp của một bầy đoàn ngợm, hay người dự bị, để chuẩn bị làm người.

Lý Đông A cho rằng sống theo tự nhiên thì chưa có kinh tế vì kinh tế là một hành động nhân vi, do con người tác động, khai thác và cái biến tự nhiên.  Chỉ từ khi con người bắt đầu tu chỉnh lại lối sản xuất theo tự nhiên thì lúc đó mới có kinh tế.  Xã hội mà Mác muốn xây dựng do đó là một xã hội không có con người và không phải của con người. Triết gia mác-xít Trần Đức Thảo đã thấy điều này trong bài viết “Vấn đề con người và chủ nghĩa lý luận không có con người”. “Không có con người”, phi nhân tính và phản nhân đạo, đây là nguyên nhân của mọi nguyên nhân khiến những nước xây dựng xã hội theo chủ nghĩa Mác đã thất bại và đã xụp đổ, mà tiêu biểu nhất là Liên Xô.

Đối với chủ nghĩa Mác trong quan hệ giữa người và người, sự trung thành với lý tưởng CS và giai cấp vô sản là cao nhất và tuyệt đối.  Và người ta không cần đến sự trung thành giữa người và người.  Do đó, trong quá trình xây dựng xã hội chủ nghĩa, vợ chồng , cha mẹ, con cái, anh em, bạn bè, hàng xóm láng giềng, chủ thợ phải thực hiện đấu tranh quan điểm và đấu tranh giai cấp -đấu tố lẫn nhau.  Trinh hay sự  trung thành giữa người và người không bao giờ là nền tảng của chủ nghĩa Mác. Thay vào đó là sự trung thành với Đảng.

Một mặt, Mác chủ trương xây dựng một xã hội “bình đẳng” không có bóc lột để giải quyết nhu yếu cho con người.  Một mặt khác Mác, dựa vào duy vật biện chứng, chủ trương dùng bạo lực cách mạng trong đấu tranh giai cấp để giai cấp vô sản chiếm lấy phương tiện sản xuất.

Nhưng đấu tranh giai cấp là sự áp dụng quy luật sinh tồn trong tự nhiên của động vật vào xã hội.  Đó là qui luật mạnh được yếu thua.  Mác dùng cái “mạnh” để tranh giành miếng ăn của loài cầm thú trong tự nhiên đem áp dụng vào đời sống xã hội con người.  Vì vậy trong quá trình xây dựng xã hội chủ nghĩa, những người cộng sản dùng bạo lực để xoá bỏ chế độ tư hữu để thành lập “chế độ công hữu”  nhằm thâu tóm tài sản của đất nước và của nhân dân để làm của riêng.  Đồng thời biến giai cấp tư sản cũ thành giai cấp vô sản mới để xã hội triền miên đấu tranh giai cấp.

Vì Mác chỉ  giải quyết nhu yếu loài người bằng qui luật của tự nhiên cho loài cầm thú cho nên khi vào thực tế chủ nghĩa Mác không bao giờ có thể đem lại bình đẳng cho loài người.
Để giaỉ quyết mâu thuẩn giữa ngưòi và người, giữa giai cấp và giai cấp, Mác chủ trương “hận thù giai cấp”.  Trong cuộc chiến “một sống một chết” với chủ nghĩa tư bản, người cộng sản phải đánh nhau tả tơi với đối phương như con thú dữ giành miếng ăn cho đến khi một bên ngã gục. Trong chủ nghĩa Mác hoàn toàn không có ý niệm “hoà” để hoá giải mâu thuẩn giữa người và người. Khi tổng bí thư đảng CS Liên Xô Kruschev chủ trương “chung sống hoà bình” với Hoa Kỳ và Tây Phương, ông đã bị những ngưòi “CS chân chính” chỉ trích kịch liệt và cuối cùng ông đã bị lật đổ.  Và cho đến ngày hôm nay, nhiều người cộng sản Việt Nam vẫn còn sợ hãi hiện tượng “diễn biến hoà bình.”

Khi phê phán chủ nghĩa Mác, Lý Đông A cho rằng chủ nghĩa Mác Lê đã lấy qui luật của tự nhiên áp dụng thẳng tuột vào đời sống người mà không qua nút điều chỉnh của nhân tính, và do đó, tội ác của chủ nghĩa Mác là biến loài người thành lò thí nghiệm xã hội và coi con người như “muối, sắt”.   Lý Đông A  cũng cho rằng xã hội loài người luôn có các giai tầng khác nhau, và để tiến hóa trong hòa bình ổn định các giai tầng này cần được phân công hợp tác. Khi các giai tầng mất phân công hợp tác sẽ biến thành giai cấp mâu thuẫn. Mâu thuẫn giai cấp do đó là “bệnh thái”, mà giai tầng phân công hợp tác là “thường thái” của xã hội loài người.  Do đó, Lý Đông A  cho rằng lấy bệnh thái làm qui luật thường thái để xây dựng xã hội là một sai lầm tai hại của Mác, nhưng lấy qui luật bệnh thái làm qui luật đấu tranh, gây chết chóc cho nhân loại, thì đó là một tội ác.

IV.
Nhìn từ góc cạnh Tây phương, và đứng về phương diện ngữ nghĩa, “văn minh” trong tiếng Pháp và tiếng Anh là “Civilization” .  Đó là sự kết hợp của chữ “civil” (dân sự) và tiếp vĩ ngữ  “ization” (trở thành).  Trong gốc Latin, “văn minh” có nghĩa  là “trở thành dân sự” hay “dân sự hoá“.  Như vậy, “văn minh” nguyên nghĩa của nó có nghĩa là quá trình trở thành dân sự của một xã hội.
Thoạt đầu “civilization” chưa có ý nghĩa “văn minh”.  Chữ “civil” có nghĩa là “dân sự” được dùng sớm nhất trong tiếng Latin.  Ở thế kỷ thứ 6, hoàng đế Justinian của đế quốc Byzantyne soạn bộ luật dân sự đầu tiên được gọi là “Corpus Juris Civilis“.  Cho đến thế kỷ thứ 14, chữ “civil” cũng chỉ có nghĩa là “liên hệ đến người dân”.  “Civilis” biến dạng thành “civility” có nghĩa là “lịch lãm.”
Do bối cảnh lịch sử của tây phương, cho đến giữa thế kỷ thứ 18, chữ civilization (dân sự hoá) mới có ý nghĩa đối nghịch với “dã man”.  Các sử gia cho rằng Adam Ferguson trong tác phẩm An Essay on the History of Civil Society (Luận đề về lịch sử xã  hội dân sự ) (Edinburgh, 1767 – p. 2) là tác giả người Anh đầu tiên đã sử dụng “civilization” để chỉ dấu cho sự tiến bộ của loài người bằng sự hình thành “xã hội công dân”, hay “xã hội dân sự”.

Như vậy quá trình hình thành, ý nghĩa chữ văn minh đi từ gốc Latin có nghĩa là liên hệ tới người dân.  Do chữ “văn minh” trong tiếng Việt không có chứa đựng chữ “người dân” cho nên trong ngôn ngữ Việt Nam không thấy được giá trị con người hay người dântrong hai chữ “văn minh”.
Tại sao dân sự hoá trở thành văn minh?
Từ thế kỷ thứ 15 lịch sử tây phương bước dần ra khỏi thời kỳ trung cổ với quyền lực tuyệt đối của đế quốc La Mã Thánh – The Holy Roman empire – bắt đầu suy tàn.  Đi với phong trào cải cách giáo hội của Martin Luther là phong trào độc lập của các vương quốc Âu Châu đối với giáo quyền Vatican.  Thế giới tây phương từ đó bước ra khỏi sự kiềm chế của giáo hội và uy quyền của giáo hoàng để đi vào thời đại phục hưng.

Từ đó, các tư tưởng tự do dân chủ bắt đầu xuất hiện.  John Locke với ý niệm quyền tự nhiên về đời sống, tự do và tài sản; Montesquieu với tư tưởng tam quyền phân lập; Voltaire với quyền tự do tư tưởng; Hobbes và Russeau với ý niệm khế ước xã hội và quyền lực chính thống đến từ người dân.  Các quốc gia tây phương bắt đầu đi vào một cuộc chuyển mình từ chế độ phong kiến độc tài sang chế độ dân chủ.  Cuộc cách mạng Hoa Kỳ 1776 và cách mạng Pháp 1789 đã lan rộng khắp Âu Châu đưa tới sự cáo chung của chế độ phong kiến tây phương và xã hội dân sự ra đời với sự thành hình của chế độ dân chủ.

Dân sự hoá chính quyền là giải thể chế độ chuyên chính của chế độ phong kiến, của các vương quyền, và giáo quyền để người dân được tham gia vào sinh hoạt chính trị.  Giải trừ độc tài là quá trình dân sự hoá xã hội.  Đó là chỉ dấu của sự tiến bộ, của sáng và đẹp.  Và đó chính là ý nghĩa nguyên thủy của hai chữ “văn minh“.

V.
Độc tài là thể chế chính trị mà quyền lực tập trung vào một người hay một nhóm người.  Quyền lực nầy được duy trì bằng bạo lực, không bị giới hạn hay chi phối bởi luật pháp, hiến pháp hay định chế xã hội.
Chế độ cộng sản là thể chế xây dựng trên quan điểm độc tài.  Các ông tổ cộng sản chủ trương rất rõ ràng về nền độc tài vô sản (proletarian dictatoship), mà khi dịch ra tiếng Việt, các nhà Mác-xít Việt Nam gọi văn hoa là “chuyên chính vô sản”.
Trong tác phẩm Phê Phán Chương Trình Gotha, Mác viết “giữa xã hội tư bản và xã hội cộng sản có một giai đoạn cách mạng chuyển tiếp từ xã hội nầy qua xã hội kia.  Trong giai đoạn chuyển tiếp chính trị nầy nhà nước coi như không có, chỉ còn chế độ cách mạng độc tài của giai cấp vô sản.” — Critique of the Gotha Program (1875).

Chế độ cộng sản do đó là chế độ phải dựa vào bạo lực cách mạng hay sức mạnh của họng súng để cướp chính quyền và thiết lập chế độ độc tài để giành miếng ăn cho đảng viên, hay những người giác ngộ giai cấp vô sản.
Dựa vào sức mạnh để giành quyền lực, để giải quyết nhu yếu, chính là sự thể hiện thú tính của động vật hoang dã trong sinh hoạt xã hội bầy đoàn.  “Tiến lên xã hội chủ nghĩa” là thiết lập chế độ độc tài toàn trị để xây dựng một xã hội dựa trên bạo lực, là đưa xã hội loài người trở về với đời sống động vật thời kỳ còn man rợ, chưa được thuần hoá.   Đó là xã hội không có nhân nghĩa, không có nhân tính, càng ngày càng cách xa với đời sống người.  Do đó chế độ độc tài tự thân đã phủ định xã hội dân sự văn minh.

Nói tóm lại, văn minh thể hiện cái đẹp của đời sống người càng ngày càng thăng hoa. Nội dung của văn minh chính là đời sống người với đầy đủ nhân tính, nhân bản và nhân chủ.   Một xã hộicàng văn minh là xã hội càng tiến gần đến những giá trị của con người và càng xa rời đời sống dã man của động vật.  Đó là xã hội đã tháo gỡ được chế độ độc tài, đã được dân sự hoá, và đã hình thành được xã hội dân sự và chế độ dân chủ.

VI.
Nhiều người cho rằng chủ nghĩa Mác không còn giá trị trên thực tế tại Việt Nam vì những người cộng sản Việt Nam đã trở thành những nhà tư bản đỏ và xã hội Việt Nam đã bị tư bản hoá.  Đặt lại giá trị của chủ nghĩa Mác Lê là việc làm không cần thiết.
Nhưng trên thực tế những người cộng sản Việt Nam vẫn còn bám víu lấy chủ nghĩa Mác Lê để làm “ánh sáng” nhằm xây dựng xã hội.  Vấn đề tham nhũng, cướp đất của dân, cướp tài sản của các cơ sở tôn giáo, hay mafia hoá chính quyền không phải là hiện tượng mà là bản chất của chế độ độc tài chưa được dân sự hoá, của một xã hội sống gần với những bản năng loài cầm thú chưa được thấy ánh sáng của văn minh.

Quan trọng hơn là chủ nghĩa Mác Lê đã được hiến pháp hoá và thể hiện vào đời sống xã hội Việt Nam bằng một thể chế độc tài đảng trị. Cho nên đặt lại những giá trị căn bản của chủ nghĩa Mác trogn mối tưong quan với ý niệm công bằng dân chủ và văn minh là một trong những điều kiện cần để phá vỡ những bế tắc của Việt Nam hiện nay.

Vì dân chủ và công bằng là hiệu suất của xã hội dân sự, của văn minh, và vì chủ nghĩa Mác với chủ trương độc tài vô sản đã phủ định văn minh, do đó, đảng cộng sản không có khả năng đem lại công bằng dân chủ và văn minh cho loài người nói chung và cho người dân Việt Nam nói riêng.
Do đó, khẩu hiệu “xây dựng đất nước công bằng dân chủ văn minh”  trong bối cảnh một chế độ độc tài toàn trị không những là một khẩu hiệu hoàn toàn vô nghĩa mà còn đi ngược lại với những logic “duy vật” của chính chủ nghĩa Mác.

Nguyễn Xuân Phước
(Mùa Xuân Nhâm Thìn 2012)
 
Copyright © 2014. Nhà Báo Nguyễn An Dân - All Rights Reserved
Proudly powered by Blogger