Hiển thị các bài đăng có nhãn Đoàn Viết Hoạt. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đoàn Viết Hoạt. Hiển thị tất cả bài đăng

Vai trò của báo chí và xã hội dân sự

Chủ Nhật, 7 tháng 9, 2014 | comments

Sự kiện bắt giữ hai cựu cán bộ công an và hai nhà báo của Tuổi Trẻ và Thanh Niên minh chứng cho những điều đã được thảo luận trên một số diễn đàn tại hải ngoại và trong nước.



Đó là thảo luận về xã hội dân sự, về vai trò của nó cũng như của truyền thông trong tiến trình chuyển hóa tại Việt Nam hiện nay.

Tự do chỉ thật sự có được khi có một xã hội dân sự độc lập với chính quyền, trong đó các nhà báo tự do là một mũi nhọn tiên phong.

Dân chủ chân chính cũng chỉ có được khi người dân thật sự có được quyền làm chủ xã hội, thật sự được hoạt động độc lập và làm đối trọng với chính quyền.

Nhận diện và hỗ trợ

Những gì đã và đang xảy ra trong vài năm gần đây trong nhiều thành phần xã hội khác nhau tại Việt Nam: công nhân, nông dân, nhà báo, nhà giáo, sinh viên v.v., cho thấy một xã hội “do dân và của dân”, không do đảng và của đảng, đang xuất hiện.

Nhiệm vụ của những người dân chủ là nhận diện được những sự kiện và những nhân tố, nhân sự này để hỗ trợ tích cực và hữu hiệu cho họ, nhằm đẩy nhanh tiến trình hình thành vững chắc, mạnh khỏe của những nhân tố này.

Để giúp họ sớm có đủ sức mạnh để độc lập, rồi chuyển thành một lực lượng đối trọng, và tiến đến đối lập, với giới cầm quyền độc đoán, độc quyền hiện nay, thu hẹp dần không gian sinh tồn của nó, “bào mòn” dần và nhanh thế và lực của nó, làm bộc lộ rõ tính chất bất lực, phi chính nghĩa của nó, để cuối cùng nó sẽ bị tan rã, hoặc “tự vỡ”, hoặc bị lật đổ bằng phong trào quần chúng nổi dậy, hoặc bằng cả hai.

Việt Nam đang chín muồi cho việc chuyển vào giai đoạn cuối cùng của tiến trình này. Đang bộc lộ mối mâu thuẫn-triệt tiêu (zero-sum) giữa các thành quả tích cực của phát triển kinh tế với các hậu quả tiêu cực đầy tai họa của suy thoái văn hóa-xã hội.

Các sự kiện đang đẩy nhanh tiến trình thay đổi Việt Nam vào giai đoạn chót, giai đoạn chuyển hóa thể chế chính trị, sau hai giai đoạn chuyển hóa kinh tế; nới lỏng không gian sinh hoạt xã hội và mở cửa bang giao quốc tế – hai giai đoạn mà đảng Cộng sản Việt Nam không thể không thực hiện để tồn tại sau sụp đổ của Liên Xô và khối Đông Âu.

Các thực thể ngoài luồng

Công việc của những người dân chủ trong-ngoài nước là nhân diện được các sự kiện, nhân tố và nhân sự độc lập đang xuất hiện ở cả bên trong hệ thống chính trị-văn hóa “quan chính” và bên ngoài xã hội, trong “dân chính” hay ngoài luồng.

Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, hệ thống Tin Lành “tại gia”, các nhóm trẻ, nhỏ, chính trị-văn hóa-xã hội “tại gia”, các bloggers tự do…đang là những nhân tố của một thực thể như thế.


Mạng Internet tạo sự năng động cho các luồng thông tin ngoài tầm kiểm soát của hệ thống chính trị

Được hỗ trợ, các thực thể này sẽ lớn mạnh lên, tạo điều kiện đẩy nhanh tiến trình chuyển hóa xã hội vào giai đoạn cuối cùng, giai đoạn sụp đổ của một chế độ chính trị vốn đang gây trở ngại cho sự phát triển một nước Việt bền vững và lành mạnh

Đây là một hệ thống không xây dựng trên sự chọn lựa tự do và đồng thuận của đa số nhân dân, mà trên tranh chấp đặc quyền-đặc lợi của các nhóm đại gia chính trị-thương mại, và trên qui luật của chế độ tư bản thời kỳ “rừng rú”, không phải pháp trị (rule of law ).

Nhìn một cách khách quan và tự nhiên thì giai đoạn này đã bắt đầu rồi, chỉ cần đẩy nhanh và đẩy đúng nữa mà thôi. Đây là trách nhiệm và công việc của mọi người Việt quan tâm đến hiện tình đất nước và tiền đồ của dân tộc – một công việc không đơn giản nhưng hiện đã có điều kiện để trở thành khả thi.

Đoàn Viết Hoạt

Ba Giai Đoạn Trong Lộ Trình Dân Chủ Toàn Diện tại Việt Nam

| comments

Tổng Quan Về Lộ Trình:

1. Để chủ động thúc đẩy tiến trình dân chủ nhanh và rộng, chúng tôi đưa ra Lộ Trình Dân Chủ Toàn Diện nhằm hai mục tiêu cụ thể. Một là tạo môi trường và điều kiện xã hội chín muồi cho việc ra đời xã hội dân sự ngay trong lòng xã hội hiện nay ở trong nước và vượt khỏi sự ngăn chặn của giới cầm quyền. Hai là đẩy mạnh cuộc vận động đòi dân chủ hóa chính quyền, nương vào sức mạnh của xã hội dân sự, vào tình trạng “không thể không” do xã hội dân sự tạo ra.



Trong hoàn cảnh của Việt Nam, việc xây dựng một xã hội trong đó người dân chủ động cải thiện toàn diện đời sống vật chất và tinh thần của họ là điều vừa cần thiết, vừa khả thi. Cần thiết vì mức sống người dân quá thấp, họ cần có cơ hội để thăng tiến đời sống càng nhanh càng tốt. Khả thi vì chính nhu cầu tồn tại của mọi tầng lớp xã hội và mọi thành phần dân tộc, dù khác biệt về chính kiến, địa phương, tôn giáo, nghề nghiệp, đòi hỏi và cho phép thay đổi mọi mặt sinh hoạt hàng ngày của xã hội. Hơn thế nữa, từ 1990 đến nay Mỹ và quốc tế đã và đang thúc đẩy thay đổi xã hội toàn diện và ổn định ở Việt Nam vì điều này có lợi cho hòa bình ổn định trong khu vực và trên toàn thế giới, cũng như phù hợp với lợi ích riêng và chiến lược toàn cầu chung của họ.

Về phần dân chúng, nhờ được cải thiện đời sống vật chất, người dân sẽ nẩy sinh thêm nhu cầu cải tiến đời sống tinh thần. Từ đó có thể tạo điều kiện để phát triển các hoạt động dân sự (của dân và do dân), làm cho người dân ngày một có cơ hội phát huy tiềm năng một cách chủ động và tự lập hơn nhờ đó toàn thể xã hội ngày một tăng trưởng và tiến bô. Điều này lại tạo thêm áp lực thúc đẩy xã hội và người cầm quyền phải thay đổi toàn diện và nhanh chóng. Các vấn đề dân sinh và dân quyền là mục tiêu đồng thời là động cơ thúc đẩy mọi tiến bộ xã hội. Dân chủ là hiệu quả của những tiến bộ xã hội đồng thời tạo môi trường và điều kiện để bảo đảm cho những tiến bộ đó được công bằng và bền vững. Đây là tiến trình thay đổi xã hội một cách hoà bình ổn định, tránh mọi rối loạn xã hội. Tiến trình này có lợi cho mọi thành phần dân tộc và mọi tầng lớp dân chúng. Đây cũng là tiến trình gia tăng sức mạnh toàn diện của người dân để họ trở thành một thế mạnh xã hội kiềm tỏa dần sức mạnh của người cầm quyền, để tiến đến lấy lại quyền chính trị, tự do quyết định chọn lựa người cầm quyền. Lộ Trình Dân Chủ Toàn Diện được đưa ra nhằm thúc đẩy tiến trình này.

2. Trong sáng và toàn diện: 

a. Trong việc thực hiện Lộ Trình Dân Chủ chúng ta sẽ vận dụng mọi hướng (nhà nước, tư nhân, quốc tế, hải ngoại, trong ngoài đảng cộng sản) nhưng không đảng phái hóa cuộc vận động, ngay cả trong giai đoạn 3 khi vận động cho việc dân chủ hóa chính quyền. Không đảng hóa vì không nhằm vận động riêng cho một cá nhân, đảng phái hay nhóm chính trị nào, mà cho môi trường và cơ chế dân chủ chung cho mọi đoàn thể chính trị. Lộ Trình trung thành với đường hướng chính trị là vận động dân chủ cho mọi người, mọi khuynh hướng và đoàn thể chính trị khác nhau, không có đặc quyền và biệt lệ cho một cá nhân hay đoàn thể nào. Trong tinh thần đó, Lộ Trình sẽ được vận động rộng rãi, trong sáng, với sự tham gia của mọi cá nhân, đoàn thể, thuộc mọi lãnh vực hoạt động xã hội, cả trong và ngoài nước, và với quốc tế. Khẩu hiệu của cuộc vận động rộng lớn này là: “Dân chủ ngay bây giờ, ở đây và cho mọi người Việt”.

b. Trong bối cảnh chính trị độc đảng, độc quyền CS hiện nay ở trong nước cuộc vận động dân chủ và những người tham gia cuộc vận động không nhằm mục đích tranh thủ ưu thắng cho riêng một cá nhân và đoàn thể chính trị nào còn bởi một lý do đơn giản là vận động theo chiều hướng này gặp các trở ngại sau đây:
(1) đối với cộng sản: khó thắng được họ vì “đấu nhau” trên “sân chơi và luật chơi” của họ (tranh quyền và giữ quyền là “nghề” của họ);
(2) đối với nhân dân: họ không tham gia vì họ cho rằng đây là cuộc “tranh quyền” không liên hệ đến họ và không phải là công việc của họ;
(3) khó thuyết phục được quốc tế ủng hộ: quốc tế dễ dàng ủng hộ nhân quyền và dân quyền hơn, trong khi vẫn có thể đi với đảng cầm quyền. Quốc tế sẽ không thể ủng hộ cuộc vận động dân chủ nếu họ cho rằng chúng ta “tranh quyền” với cộng sản đang cầm quyền.

c. Tuy nhiên, cần minh xác rằng một nước Việt tự do dân chủ cần có những chính đảng và những nhà chính trị tài giỏi mang vóc dáng thời đại và với tầm cỡ quốc tế. Cuộc vận động của chúng ta hiện nay chính là nhằm tạo môi trường và điều kiện để những chính đảng và chính trị gia như thế tự đào luyện và xuất hiện được, vì qua cuộc vận động chỉ vì quyền lợi của dân chúng và của dân tộc này mà quần chúng (trong nước) sẽ biết đến những chính đảng và chính trị gia đó. Đồng thời chính trong môi trường và điều kiện tự do dân chủ chân chính mà những chính đảng và chính trị gia mới phát huy được khả năng lãnh đạo đất nước để dân chúng chọn lựa.

3. Đối tượng vận động:

ba khu vực và ba đối tượng vận động trong Lộ Trình Dân Chủ Toàn Diện. Ba khu vực là trong nước, hải ngoại và quốc tế. Ba đối tượng là quần chúng, những tác nhân thay đổi (change agents), và nhóm quyết định chính sách (policy makers). Tại mỗi khu vực đều có ba đối tượng nhưng tính chất, thành phần, mục tiêu và phương thức vận động cụ thể có thể khác nhau. Ở đây chỉ phân tích tổng quát cho cả ba khu vực.

a. Quần chúng: Mục tiêu chung của cuộc vận động đối với quần chúng trong-ngoài nước là tạo tâm thức mới (“cùng sống giúp tiến”, cùng tồn tại) và tầm nhìn mới (tầm nhìn của một nước Việt Nam trong thế kỷ XXI) làm chất keo gắn bó mọi thành phần dân tộc và mọi tầng lớp dân chúng, nhất là thành phần trẻ (hiện là đa số ở trong nước). Với trong nước, tạo điều kiện vật chất và tinh thần để mọi tầng lớp dân chúng phát huy tiềm năng và chủ động được cuộc sống của họ, độc lập, và khi cần, đối lập với chính quyền cộng sảnï. Với cộng đồng người Việt hải ngoại, vận dụng được vị thế công dân tại mỗi quốc gia định cư để trực tiếp vận động quốc tế hỗ trợ việc xây dựng xã hội dân sự và chính quyền dân chủ, tiến đến phát triển một nước Việt văn minh và hưng thịnh trong thế kỷ XXI. Đặc biệt chú trọng đến giới trung niên (30-40) và giới trẻ (duới 20) ở cả trong và ngoài nước.

b. Tác nhân thay đổi (change agents) là những cá nhân, nhóm, đoàn thể tác động vào sự thay đổi của xã hội và chính quyền ở trong nước, trong cộng đồng người Việt hải ngoại, trong các quốc gia và cộng đồng quốc tế. Thành phần này bao gồm các chuyên viên thuộc mọi ngành chuyên môn. Đa số ở lứa tuổi trung niên. Đặc biệt chú trọng thành phần này trong các hội đoàn xã hội, nhất là trong chính quyền và đảng cộng sản ở trong nước. Mục tiêu là giúp họ tăng cường hiểu biết về mọi lãnh vực (chú trọng các ngành nhân văn và xã hội), tiếp cận thế giới. Tạo cơ hội cho giới này ở hải ngoại và trong nước gặp gỡ và cùng làm việc với nhau. Đây là lực chuyển đổi chính của xã hội ở trong nước cũng như hải ngoại, hiện nay và trong tương lai gần. Nhóm quyết định chính sách cần đến nhóm tác nhân thay đổi trong cả hai công việc soạn thảo và thi hành chính sách. Do đó nhóm tác nhân thay đổiï có thể tác động vào cả thượng tầng chính quyền và hạ tầng xã hội. Chúng ta cần tạo quan hệ làm việc tốt, tin cậy với những nhóm tác nhân thay đổi trong ngoài nước, nhất là trong nước. Đối với quốc tế, vận động thành phần này trong các chính phủ, các hội đoàn xã hội (NGO) và đoàn thể áp lực, các trường đại học và trung tâm nghiên cứu, tạo sự đồng tình và ủng hộ đối với cuôc vận động của những người dân chủ VN.

c. Nhóm quyết định chính sách: Trong các hội đoàn văn hóa xã hội và đoàn thể chính trị thuộc mọi khuynh hướng chính trị, tư tưởng, trong ngoài nước và quốc tế, trong và ngoài chính phủ nhưng đặc biệt chú trọng thành phần cấp tiến của nhóùm này ở trong đảng cộng sản và chính quyền CSVN hiện nay. Ba mục tiêu chính trong cuộc vận động nhóm cấp tiến này ở Việt Nam là (1) đồng tình với cách giải quyết vấn đề Việt Nam của chúng ta; (2) cảm thấy vừa cấp bách, vừa yên tâm và an toàn khi thay đổi trong hai lãnh vực văn hóa và chính trị; (3) chấp nhận dân chủ hóa chính quyền.

Ba Giai Đoạn của Lộ Trình Dân Chủ Toàn Diện

Lộ Trình Dân Chủ Toàn Diện bao gồm 3 công việc: (1) thiết lập hệ thống và cơ cấu kinh tế thị trường; (2) tạo môi trường và điều kiện cho việc hình thành xã hội dân sự và tăng cường sức mạnh vật chất và tinh thần của người dân; (3) và cuối cùng là dân chủ hóa chính quyền. Ba công việc này được tiến hành trong ba giai đoạn đan xen nhau, nghĩa là giai đoạn sau khởi động ngay khi giai đoạn truớc đã tương đối phát triển, dù chưa hoàn tất.

1. Giai Đoạn 1 (GĐ 1)

Thiết lập hệ thống kinh tế thị trường. Hội nhập kinh tế VN vào nền kinh tế thương mại khu vực và thế giới.
a. Ưu tiên phát triển khu vực tư nhân. Giải tư xí nghiệp quốc doanh. Phát triển nhanh các doanh nghiệp tư nhân trên mọi lãnh vực.
b. Xây dựng hệ thống pháp trị trong kinh tế thương mại: Hiện nay luật pháp tại Việt Nam còn dành nhiều ưu đãi cho quốc doanh. Luật pháp liên quan đến kinh tế thương mại cần được sửa đổi để bảo đảm cạnh tranh được thật sự tự do, có trách nhiệm và công bằng xã hội, giữa tư doanh, quốc doanh và quốc tế trong mọi lãnh vực nhất là trong các lãnh vực như ngân hàng, thuế, đầu tư, lao động, truyền thông, xuất bản phát hành…
c. Hội nhập thị trường quốc tế, khu vực và thế giới.
Từ 1990 đến nay VN đã và đang thực hiện giai đoạn 1 này với sự hỗ trợ tích cực của quốc tế. Hiện đã vào thời kỳ cuối của giai đoạn này, đang chuyển sang giai đoạn 2.

2. Giai Đoạn 2 (GĐ 2)

Phát triển các hoạt động dân sự. Người dân ngày càng có điều kiện để chủ động cuộc sống, và độc lập hơn với nhà nước. Nhà nước nới lỏng dần sự kiểm soát trong các lãnh vực ngoài lãnh vực kinh tế thương mại, nhưng chưa sang lãnh vực chính trị. Hiện nay xã hội dân sự đang hình thành dần, vừa do tự phát, vừa do nhà nước “buông lỏng” hoặc không quản lý nổi (vì nhiều lý do khác nhau, kể cả ảnh hưởng hội nhập quốc tế). Cần tác động để đẩy nhanh hơn tiến trình này, đặc biệt hỗ trợ các hoạt động tư nhân trong mọi lãnh vực và giúp hình thành các tổ chức phi chính phủ ở trong nước, dưới nhiều hình thức và giai đoạn phát triển khác nhau tùy hoàn cảnh và điều kiện thực tế (thí dụ: từ bán chính phủ sang phi chính phủ, từ hoạt động nhỏ hẹp không chính thức, sang rộng lớn có tổ chức chính thức, từ hải ngoại đưa vào trong nước tiến đến hoàn toàn do trong nước…).

Ba nỗ lực chính ở trong nước cần được hải ngoại và quốc tế tích cực hỗ trợ: các giáo hội độc lập; các hoạt động giáo dục, văn hóa tư tưởng thông tin độc lập của tư nhân; và các hội đoàn dân sự tư nhân (NGO) của mọi thành phần, mọi giới, từ trí thức chuyên gia đến nông dân, công nhân (công đoàn, nông đoàn độc lập)

a. Giáo dục: đã bắt đầu được cởi mở từ cuối 1980’s. Đã có trường tư cả đại học, nay mở rộng cho đại học thế giới tham gia phát triển, cả trong nghiên cứu học thuật (phi ý thức hệ); du học ngày càng mở rộng. Đây là lãnh vực có thể và cần được đẩy nhanh hơn nữa, và sẽ tác động sâu rộng đến các lãnh vực khác của xã hội. Chú trọng giao lưu giữa sinh viên và chuyên gia trong ngoài nước và với quốc tế. Hỗ trợ cho đòi hỏi “tự trị” đại học.

b. Văn hóa: xuất bản phát hành tư nhân (hiện chưa có, nhưng có tư nhân hợp tác hoặc “núp bóng” quốc doanh); báo chí độc lập (hiện chưa có, nhưng “lách” nhiều hơn, tinh vi hơn, tương đối tự do hơn trừ đụng chạm HCM, lãnh đạo, đảng, ý thức hệ); văn học nghệ thuật (sáng tác khá tự do), phim ảnh. Cần hỗ trợ các nỗ lực và sáng kiến tự lập dù chưa thật sự độc lập. Đây là lãnh vực quan trọng trong quá trình tự do hóa xã hội và phát triển xã hội dân sự. Hải ngoại chủ động hỗ trợ và thực hiện giao lưu 2 chiều giữa giới văn nghệ sĩ, trí thức trong-ngoài nước và đòi hỏi lưu thông các hoạt động văn hoá, văn học nghệ thuật, văn hóa phẩm 2 chiều trong-ngoài nước (với tư cách công dân Mỹ gốc Việt)
c. Xã hội: Các hoạt động trong lãnh vực cứu tế xã hội hiện đang được mở rộng hơn trước. Đã có một số hội đoàn quốc tế và hải ngoại đã và đang thực hiện các hoạt động về cứu trợ, học bổng, y tế, cứu tế xã hội, các loại học bổng, các hình thức tương trợ gia đình, làng xóm không chính thức hoặc chính thức. Hướng đạo, các đoàn thể tín hữu như gia đình phật tử đã được mặc nhiên cho hoạt động lại. Đây là lãnh vực có thể đẩy nhanh và rộng khắp.

d. Tôn giáo: Các hoạt động tôn giáo độc lập cần được phục hồi và trở thành đương nhiên và chính thức trong thời gian tới đây. Đây là lãnh vực được quốc tế hỗ trợ mạnh nhất sau tự do thương mại. Tích cực hỗ trợ các hoạt động văn hoá, giáo dục, xã hội do các giáo hội và tín hữu thực hiện một cách độc lập với nhà nước.

e. Tăng cường tiếng nói và quyền lực của quần chúng: công nhân (tổ chức lao động), nông dân, nhà giáo, nhà văn, nhà báo, chuyên gia. Hỗ trợ các hoạt động độc lập với nhà nước trong mọi lãnh vực, đặc biệt là trong lãnh vực văn hóa giáo dục và truyền thông.

3. Giai Đoạn 3 (GĐ 3)

Dân chủ hóa chính quyền. Đây là giai đoạn vận động để thiết lập chế độ dân chủ pháp trị. Các mục tiêu vận động cụ thể:
a. Cải tổ hành chánh công quyền: qui chế hóa và chuyên nghiệp hóa công chức. Vận động tách nhà nước ra khỏi đảng về mặt chuyên nghiệp hành chánh, tài chánh (ngân hàng, thuế, ngân sách), pháp chế. Quốc tế đang áp lực Hà Nội thực hiện một số cải cách này.
b. Tăng cường quyền lực chính trị của các cơ quan dân cử đối với chính phủ và chính quyền các cấp. Tách Quốc Hội ra khỏi đảng, khỏi chính phủ, có thực quyền cao hơn chính phủ.
c. Tự do ứng cử và bầu cử ở cấp địa phương (không qua Mặt Trận Tổ Quốc) giữa người của đảng và người ngoài đảng cộng sản (dù chưa có đa đảng).
d. Báo chí độc lập. Tự do lập hội đoàn độc lập phi chính phủ.
e. Sửa Hiến Pháp, chấp nhận có các đảng phái ngoài đảng cộng sản.
f. Bầu cử tự do đa đảng có quốc tế giám sát.
Hiện nay chúng ta cần tích cực hỗ trợ việc phát triển khu vực tư nhân ở trong nước trên mọi lãnh vực, nhất là các lãnh vực văn học nghệ thuật, văn hóa, xã hội, giáo dục và thông tin, và hội nhập hai chiều giữa hoạt động tư nhân hải ngoại và quốc tế với trong nước. Đồng thời chuẩn bị cho Giai Đoạn 3. Đặc biệt cần vận động hải ngoại và quốc tế hỗ trợ thực hiện các mục tiêu của Giai Đoạn 2 và Giai Đoạn 3.

Thực Hiện Lộ Trình:

Vì đây là chương trình hành động chung, được đưa ra để mọi cá nhân và đoàn thể liên quan cùng tiến hành thực hiện nên chúng ta đề nghị một lộ đồ thực hiện lộ trình này như sau:

1. Thảo Luận Về Lộ Trình: Đề xuất việc những người dân chủ cần có một lộ trình dân chủ chung. Mọi cá nhân và đoàn thể nào đồng ý đều có thể chủ động tổ chức các diễn đàn thu hẹp để thảo luận kỹ và sâu về lộ trình dân chủ hóa Việt Nam. Lộ Trình này có thể được dùng để gợi ý cho các cuộc thảo luận. Các diễn đàn có thể được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau, thích hợp hoàn cảnh mỗi nơi, trong thời kỳ đầu nhằm mục đích thảo luận và đồng ý, trước khi thực hiện. Thời điểm từ giữa năm 2003 trở đi tình hình dự kiến sẽ có nhiều biến chuyển thuận lợi cho việc thảo luận rộng rãi về lộ trình dân chủ cho Việt Nam.

2. Xây Dựng Kế Hoạch Thực Hiện: Những cá nhân, đoàn thể, diễn đàn nào đồng ý với đuờng hướng và những điểm chính của lộ trình sẽ gặp nhau để thảo luận về việc thực hiện lộ trình đã được đồng ý. Mọi chi tiết liên quan đến việc thực hiện lộ trình sẽ được quyết định qua các buổi họp này. Các buổi họp sẽ được tổ chức nhẹ, gọn, không nặng hình thức, không cần công bố, từng vùng, hoặc toàn cầu, tùy điều kiện cho phép.

3. Thực Hiện Lộ Trình: bắt đầu ngay sau khi đã thoả thuận được kế hoạch và chương trình thực hiện mọi nỗ lực sẽ được tập trung tiến hành để thực hiện các công việc của lộ trình đã đồng ý, đặc biệt chú trọng các công việc của giai đoạn 2. Chi tiết về phương pháp và phương thức tổ chức thực hiện sẽ do những người tham gia quyết định.

4. Lộ Đồ Dân Chủ: Để chuẩn bị cho giai đoạn 3 của Lộ Trình mà chúng tôi đề nghị, cần có một Lộ Đồ Dân Chủ (road map), tức những bước đi cụ thể do tất cả những bên liên quan trong tiến trình dân chủ hóa chính quyền tại Việt Nam thỏa thuận thực hiện. Lộ Đồ Dân Chủ là chương trình chuyển tiếp hoà bình từ nền chính trị độc đảng hiện nay sang chế độ dân chủ đa đảng. Thời điểm và phương thức vận động Lộ Đồ tùy thuộc vào kết quả thực hiện giai đoạn 2 trong Lộ Trình chúng tôi đề nghị, và vào tình hình chính trị xã hội trong nước.

Tổng Kết

Lộ Trình Dân Chủ Toàn Diện được soạn thảo vừa dựa trên xu thế phát triển khách quan của thế giới, khu vực và Việt Nam, vừa dựa trên nhân định và chọn lựa chủ quan về giải pháp tối ưu cho vấn đề Việt Nam. Từ 1990 đến nay dưới áp lực của tình thế, của môi trường quốc tế, khu vực, cùng với sự hỗ trợ của quốc tế, nhất là Mỹ, Việt Nam đã đi vào giai đoạn 1 của Lộ Trình này. Điều kiện thực tế và môi trường tâm lý, kinh tế, xã hội và chính trị hiện nay (2003) ở cả trong-ngoài nước và quốc tế, trong-ngoài đảng cộng sản, đều đã chín muồi cho việc thực hiện giai đoạn 2.

Sự thành công của Lộ Trình Dân Chủ là thành công chung của mọi cá nhân và đoàn thể, dù khác biệt chính kiến và tư tưởng. Kết quả của dân chủ hóa là có được một môi trường xã hội có cạnh tranh tự do nhưng lành mạnh và công bằng cho mọi người, mọi khuynh hướng và đoàn thể, trong kinh tế thương mại, văn hoá giáo dục cũng như trong chính trị. Quốc dân sẽ vừa là mục đích vừa là trọng tài có quyền quyết định chọn lựa trong cuộc cạnh tranh toàn diện, tự do và công bằng này.

Chúng tôi tin rằng Lộ Trình Dân Chủ Toàn Diện là khả thi vì vừa phù hợp xu thế phát triển chung của nhân loại, vừa đáp ứng nguyện vọng của đa số thầm lặng trong ngoài nước, cũng như ước mong của đa số những cá nhân và đoàn thể hiện nay ở trong và ngoài nước quan tâm tới tiền đồ dân tộc. Chúng tôi tin rằng Lộ Trình này khả thi cũng vì hiện nay có nhiều yếu tố thuận lợi cả ở trong nước và hải ngoại. Nhận ra và vận dụng được những yếu tố này thì có thể đẩy nhanh được tiến trình tự do hóa xã hội và dân chủ hóa chính quyền. Chúng tôi cũng tin rằng cuộc vận động cho lộ trình dân chủ toàn diện và toàn dân này sẽ tạo được một môi trường hòa ái dân tộc cần thiết cho việc đối thoại về một hướng đi chung cho dân tộc trong thiên niên kỷ mới.

Đoàn Viết Hoạt

Dân tộc và dân chủ trong vận động chính trị hiện nay

| comments

Cuộc vận động chính trị hiện nay của những người Việt yêu nước ở hải ngoại và trong nước không đơn thuần là cuộc vận động dân chủ mà còn là cuộc vận động để mở đường cho dân tôc phát triển và phục hưng.



 Tình trạng lạc hậu của đất nước thôi thúc mọi người Việt yêu nước phải quan tâm và đóng góp vào việc tìm biện pháp giúp đất nước phát triển toàn diện, nhanh chóng và bền vững. Chúng ta vận động cho dân chủ vì chúng ta tin rằng chỉ có tự do dân chủ thì mọi thành phần dân tộc mới có cơ hội để phát huy tiềm năng của mình, đạt được một đời sống ấm no hạnh phúc, và dân tộc chúng ta mới hội nhập được vào dòng tiến hoá chung của nhân loại. Đất nước có phát triển thì dân tộc mới có được vị thế xứng đáng với bề dầy lịch sử và tiềm năng của người dân Việt. Dân tộc và dân chủ, do đó, là hai mặt của cuôc vận động lịch sử hiện nay.

Dân Chủ Trong Cuộc Đấu Tranh Giải Phóng Dân Tộc

Trước hết, dân chủ không phải là vấn đề mới lạ trên chính trường Việt Nam trong gần một thế kỷ qua. Ngay từ những thập niên 1920, 1930, khi cả dân tộc còn đang phải đấu tranh quyết liệt và sắt máu để giành lại độc lập, thoát khỏi sự đô hộ của người Pháp, lý tưởng dân chủ đã được những nhà cách mạng quốc gia đề ra trong các cương lĩnh của họ, chẳng hạn như trong đường lối Tam Dân của Việt Nam Quốc Dân Đảng hay chủ nghĩa Duy Dân của Lý Đông A. Khi đảng Cộng Sản, qua phong trào Việt Minh, giành được chính quyền và thiết lập nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa năm 1945, bản Hiến Pháp dân chủ đầu tiên của Viêït Nam đã ra đời với các điều khoản cần có của một chế độ dân chủ, dù ngay sau đó, những điều khoản này cùng với cả chế độ dân chủ đã bị ông Hồ Chí Minh và đảng Cộng sản của ông cố tình “bỏ quên”. Rồi khi đất nước bị chia đôi, nước Việt Nam Cộng Hòa ra đời ở miền Nam, chế độ cộng hoà được thành lập, với một bản Hiến Pháp dân chủ khá hoàn chỉnh, các cơ chế tam quyền phân lập rỏ nét.

 Nhưng rồi, vì nhiều lý do khác nhau –từ giới lãnh đạo độc tài, đến các chính đảng non trẻ, đến trình độ dân trí thấp, và nhất là vì tình trạng chiến tranh– nền dân chủ cũng lại không có cơ hội để thử thách và phát huy tác dụng tích cực để ổn định và phát triển đất nước. Cuối cùng, từ 1975 đến nay, chế độ cộng sản đã, và còn đang cố, “bóp chết” dân chủ và tự do bằng mọi biện pháp. Vào thời điểm của năm 2004 này ban lãnh đạo cộng sản Việt Nam đang phải tự điều chỉnh để tồn tại –từ độc tài toàn trị chuyển sang độc tài pháp quyền, mà họ gọi là “dân chủ pháp quyền” (“pháp quyền” chứ không phải “pháp trị”, vì pháp trị không thể đi với độc tài, cũng như pháp quyền không đương nhiên đi với dân chủ). Họ cũng đưa thêm danh từ “dân chủ” vào khẩu hiệu mị dân: “dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.

Nhưng dù có đổi mới và tự điều chỉnh thế nào đi nữa, từ năm 1975 đến nay, ban lãnh đạo cộng sản đã chính thức “khai tử” những cuộc thử nghiệm “dân chủ hóa” nước Việt trước đó, những cuộc thử nghiệm chưa có đủ thời gian và điều kiện để thành công. Họ đã khai tử nền dân chủ còn non trẻ khi đất nước đã “sạch bóng quân xâm lược”, đã “hoà bình thống nhất”, nghĩa là vào đúng lúc mà dân chủ tự do đáng lẽ đã phải có được cơ hội và điều kiện thuận lợi nhất để tồn tại và phát triển.

Kiểm điểm lại lịch sử như thế để thấy rằng cuộc vận động dân chủ hiện nay ở hải ngoại cũng như ở trong nước chính là để tiếp nối những vận động đã được tiến hành và còn dang dở cả trước và sau thời kỳ quốc-cộng, ở cả hai miền Nam-Bắc, trong suốt hơn nửa thế kỷ qua. Nhìn từ góc độ lịch sử dân tộc còn giúp ta hiểu được tại sao cuộc vận động cho dân chủ tại Việt Nam lại có thể cuốn hút cả những người cộng sản, suốt đời hy sinh cho chủ nghĩa cộng sản, một chủ nghĩa coi “dân chủ” chỉ là sản phẩm chính trị của chế độ kinh tế tư bản bóc lột. Tự do và dân chủ, nếu bóc bỏ hết đi cái vỏ “tranh quyền”, thì chính là “khát vọng ngàn đời” của dân tộc Việt, cũng như mọi dân tộc khác, muốn vươn mình lên cùng chung hưởng tự do, hạnh phúc với toàn thể nhân loại. Nếu nhìn từ góc độ dân tộc, và không qua lăng kính “đảng tranh, tranh quyền” thì vận động cho tự do, dân chủ và nhân quyền phải, và trong thực tế hiện đang, là cuộc vận động của mọi thành phần dân tộc, bất kể trước đây và hiện nay đang đứng trong hàng ngũ và quan điểm chính trị nào. Một tập hợp toàn dân tộc vì nền dân chủ có thể và đã đến lúc phải ra đời để cùng vận động cho một nước Việt Nam dân chủ và phú cường trong thiên niên kỷ thứ ba này.

Dân Tộc Trong Cuộc Vận Động Dân Chủ

Dân tộc như thế phải là thế đứng của cuộc vận động dân chủ hiện nay. Dân tộc là thế đứng bởi một lẽ đơn giản là, dù trong thời đại toàn cầu, hay nói cho đúng hơn, chính vì trong thời đại toàn cầu, toàn nhân loại, mà mỗi quốc gia đều phải quay về với bản vị dân tộc, vừa để bảo vệ quyền lợi vật chất và tinh thần của người dân, vừa để phát huy bản sắc dân tộc, đóng góp vào vườn hoa văn hóa nhân loại. Dân chủ sẽ chẳng có ý nghĩa và chẳng đáng được vận động nếu không đem lại ấm no hạnh phúc cho toàn dân, hưng thịnh cho dân tộc, mà biến quốc gia, dân tộc thành một thị trường tiêu thụ cho doanh nhân quốc tế, thành một thuộc quốc của thiên hạ đại cường.
Dân tộc do đó cũng phải là động cơ và mục đích của cuộc vận động dân chủ bởi vì mọi chế độ chính trị xã hội cũng như kinh tế đều chỉ là những phương tiện để đem lại ấm no hạnh phúc cho toàn dân, hưng thịnh cho dân tộc. Nếu kinh tế chỉ huy mà đạt được mục đích này thì chẳng cần phải quay sang kinh tế thị trường –và đã có một thời ban lãnh đạo cộng sản “duy ý chí” đã nghĩ và làm như thế, với bao hậu quả tai hại lâu dài cho cả tinh thần lẫn vật thể của dân tộc. Nếu chính trị độc tài mà đạt được mục đích này thì cũng không cần khổ nhọc vận động cho dân chủ. Và hiện nay ban lãnh đạo cộng sản tại VN vẫn “kiên trì” với quan điểm “duy ý chí” đó, viện dẫn những mô hình phát triển đã lỗi thời hoặc đang bị khủng hoảng.

Thực tế cho thấy lịch sử thế giới không đứng về phía chế độ độc tài, dù độc tài dưới hình thức nào và vì lý do nào. Liên Xô, mẫu mực của chế độ độc tài toàn trị, không những không phát triển được (trừ sức mạnh quân sự và khả năng khống chế các nước đàn em), mà ngược lại cuối cùng đã sụp đổ sau hơn 70 năm tồn tại, sụp đổ tự bên trong cơ chế độc tài đó. Singapore thường được nêu ra như là một trường hợp kiểu mẫu, phát triển kinh tế thành công mà không cần đến chế độ chính trị dân chủ. Nhưng Singapore đã phát triển kinh tế một phần nhờ vào cuộc chiến tranh ở Việt Nam, nhờ vào việc sửa chữa các tầu chiến của Mỹ. Hơn nữa, Singapore đã phát triển vào thời gian 40 năm trước đây khi chưa có hiện tựơng toàn cầu hóa, chưa có thương mại tự do, chưa có internet, nghĩa là chưa có một thế giới và khu vực với biên giới quốc gia mở, với hơn 60% các quốc gia trên thế giới có nền kinh tế thị trường, văn hoá thông tin tự do và chế độ dân chủ như ngày nay.

Singapore gần như là một trường hợp duy nhất. Mô hình Singapore không thấy tái xuất hiện thành công ở nơi nào khác trên thế giới từ đó đến nay. Ngược lại, chúng ta thấy các chế độ độc tài, độc đảng thi nhau sụp đổ, từ Liên Xô và các nước cộng sản Đông Âu, đến Đài Loan, Nam Triều Tiên….Mà tất cả đều sụp đổ từ bên trong, hoặc bằng “diễn biến hoà bình” (Đài Loan, Liên Xô), hoặc qua bạo loạn (Nam Triều Tiên, Indonesia…). Và không hề xẩy ra trường hợp ngược lại, thí dụ như chế độ dân chủ khi phát triển lại trở nên độc tài, hoặc phát triển kinh tế cao nhưng không trở thành dân chủ. Chính Singapore ngày nay đã bắt đầu có đảng đối lập, dù còn non trẻ. Ngay cả Trung quốc cũng đang phải dò dẫm tìm một mô hình dân chủ, sau khi đã phải chấp nhận nền kinh tế thị trường, và đang làm cuộc thử nghiệm chính trị “một nước Trung Hoa hai chế độ”, cùng nhiều thí điểm cải cách chính trị khác.
Sự thật đơn giản là tiến trình tự do hóa xã hội, dân chủ hóa chính quyền, đi đôi với nền kinh tế thị trường tự do, là một tiến trình không thể đảo ngược ở mọi quốc gia trên thế giới từ sau đệ nhị thế chiến đến nay. Tiến trình này chỉ khác nhau ở tốc độ, chậm hay mau, và ở phương thức, hòa bình hay qua bạo loạn, và khác nhau ở những tiểu tiết thực hiện, tùy hoàn cảnh và khả năng của nhân dân và giới lãnh đạo ở mỗi nước. Trong thời đại tri thức điện tử hiện nay, chậm và qua bạo loạn tất nhiên không phải là con đường lưạ chọn tối ưu cho bất cứ dân tộc nào, nhất là cho dân tộc Việt, vì Việt Nam đã chậm tiến quá lâu rồi, người dân Việt đã mất mát, thua thiệt quá nhiều rồi.

Dân Tộc và Dân Chủ

Cuộc vận động dân chủ hiện nay do đó là một cuộc vận động cần thiết và thích hợp với dân tộc và thời đại. Cuộc vận động này có hai mục tiêu gắn liền với nhau: thiết lập chế độ dân chủ, và mở đường phục hưng dân tộc và phát triển đất nước. Hai mục tiêu này là một nhưng chia thành hai giai đoạn, ngắn hạn để xây dựng dân chủ và dài hạn để phát triển và phục hưng dân tộc. Tuy ngắn hạn nhưng thiết lập chế độ dân chủ là điều kiện cần có để phát triển bền vững; tuy dài hạn nhưng mục tiêu phục hưng dân tộc đem lại chính nghĩa và cơ sở vững chắc cho cuộc vận động dân chủ. Dân tộc vừa là mục tiêu vừa là động cơ của cuộc vận động dân chủ, đồng thời, dân chủ là môi trường và điều kiện phải có mới phát triển bền vững và phục hưng dân tộc được.

Về mặt tổ chức và chiến lược-chiến thuật, thế đứng dân tộc bảo đảm đuợc tính ”toàn dân và toàn diện” của cuộc vận động dân chủ, giúp tập hợp được mọi thành phần dân tộc khác nhau trong một trận tuyến chung, trận tuyến dân tộc, tránh được xung đột về chính kiến và đoàn thể. Đồng thời, qua cuộc vận động dân chủ toàn dân và toàn diện mà tạo điều kiện và môi trường cho cuộc phục hưng và phục hoạt dân tộc một cách toàn diện, nhanh chóng và bền vững. Dân tộc không thể phát triển nếu các thành phần dân chúng, trong mọi ngành hoạt động của xã hội không có cơ hội phát triển, và nếu toàn dân Việt không có cơ hội hoà nhập vào dòng tiến hoá chung của nhân loại và thời đại.

Bằng thế đứng dân tộc trong cuộc vận động dân chủ, chúng ta vượt qua và không bị xa lầy trong cuộc tranh chấp và chia rẽ hiện nay trong đại gia đình dân tộc. Dân tộc còn chia rẽ thì không thể có tự do, dân chủ chân chính cho tất cả mọi người Việt, mà cũng không thể phát triển và phục hưng dân tộc được. Nếu dân tộc bao gồm mọi thành phần thực hữu khác nhau thì không thể chỉ dân chủ với một thành phần dân tộc này mà không dân chủ với thành phần dân tộc khác. Toàn thể dân tộc phải cùng được hưởng thành quả của môi trường và cơ chế tự do dân chủ. Thế đứng dân tộc là thế đứng toàn dân. Trận tuyến dân tộc là trận tuyến của toàn dân trong-ngoài nước đối kháng lại tập đoàn độc tài, trước mắt là độc tài của ban lãnh đạo cộng sản đương quyền. Cuộc vận động trên thế đứng và trong trận tuyến dân tộc là cuộc vận động của toàn dân vì nền dân chủ. Chúng ta tin rằng chỉ đứng từ vị thế “toàn dân vì nền dân chủ” mới mở đường cho sự tái thống nhất dân tộc để từ đó vận động hữu hiệu cho lộ trình dân chủ hóa và phát triển đất nước, mang lại phúc lợi cho mọi người Việt.

Trong ý nghĩa đó thì, nói một cách nôm na, hình tượng, mục tiêu của chúng ta là “tạo một sân chơi chung (dân chủ) với luật chơi chung (pháp trị)” cho mọi “đội chơi” (tổ chức, đoàn thể) và trong mọi “trò chơi” (kinh tế, văn hóa, chính trị). Tức là cuộc vận động dân chủ toàn dân và toàn diện nhằm tạo cơ chế, môi trường và điều kiện tự do dân chủ để mọi tài năng của người Việt được phát huy. Vận động dân chủ khởi đi từ bệ phóng dân tộc, từ thế đứng toàn dân, để đạt đến điểm đích là toàn dân hạnh phúc và dân tộc hưng thịnh.

Quan Điểm Và Nguyên Tắc
Để tiến hành được cuộc vận động dân chủ với thế đứng và động lực dân tộc đó, chúng ta cần làm sáng tỏ một số quan điểm về cuộc vận động chính trị hiện nay.

Trước hết, chúng ta tin rằng Việt Nam phải và có thể nhanh chóng chuyển sang một thời kỳ phát triển mới, thời kỳ phát triển một nước Việt của thế kỷ 21. Việt Nam thế kỷ 21 phải là một Việt Nam của mọi người Việt và cho mọi người Việt không phân biệt đối xử vì những khác biệt tư tưởng, chính kiến, tôn giáo, địa phương, chủng tộc. Mọi hình thức đàn áp, tinh thần và thân thể, vì các lý do này, do bất cứ ai và nhân danh bất cứ gì, đều là bất hợp pháp và phải bị luật pháp trừng phạt. Việt Nam thế kỷ 21 phải tạo môi trường và cơ hội phát triển không giới hạn năng lực đặc thù của mọi ngưòi Việt. Chúng ta tin rằng một nước Việt như thế sẽ khai phóng tiềm năng, nhanh chóng nâng cao mức sống, gia tăng hiểu biết, và mở rộng phạm vi phát triển cho mỗi cá nhân và mọi thành phần dân chúng. Với một nước Việt như thế, dân tộc ta sẽ dễ dàng hội nhập trào lưu tiến hóa chung của nhân loại. Chúng ta cũng tin rằng một nước Việt như thế là điều mong mỏi của mọi người Việt, đồng thời người dân Việt hiện nay có khả năng và nhất là có quyền được hưởng một cuộc sống mới trong một môi trường sống xứng đáng với mọi con người và với một dân tộc đã mất mát nhiều như dân tộc Việt. Một nước Việt như thế có thể ra đời được trong giai đoạn lịch sử hiện nay của dân tộc và của thế giới.

Nhưng để một nước Việt như thế ra đời được, cần có một phong trào dấn thân mới ở trong nước, và cả ở hải ngoại, tương xứng với nhu cầu và nhiệm vụ của giai đoạn lịch sử hiện nay. Phong trào dấn thân này không chỉ là một phong trào thuần túy chính trị. Nó phải bao gồm mọi lãnh vực hoạt động cần thiết để tạo được môi trường và điều kiện khai phóng sức sống và tiềm năng đa dạng, phong phú của mọi thành phần dân tộc với mọi xu hướng và khả năng khác nhau. Trong phong trào dấn thân mới này, các lãnh vực kinh tế, thương mại, xã hội, và văn hóa thông tin, giáo dục chiếm vị thế quan trọng ngang với, nếu không nói là hơn cả, chính trị khi mà nước ta còn quá nghèo, trình độ kiến thức và tinh thần của dân ta còn quá thấp, và trong bối cảnh thời đại mà tri thức đã trở thành yếu tố quyết định mọi tiến bộ.

Có thể nói cuộc vận động văn hóa và xã hội có tác dụng quyết định đột phá để tạo ra được một nước Việt tiến bộ, và ngay trước mắt, một phong trào dấn thân mới. Nó phải đi trước một bước để gây nên một cao trào tư tưởng mới, một tư trào mớùi. Tư trào này đề ra được một viễn ảnh mới cho một nước Việt mới. Nó cũng phải tạo ra được một công luận mới, một cao trào quan tâm và thảo luân công khai, nghiêm chỉnh, tự do và hoà ái về mọi vấn đề liên quan đến đời sống cá nhân, gia đình, đến thực trạng và tương lai của đất nước và của dân tộc. Nó có tham vọng gây ra được một cao trào ý thức và quan tâm xã hội mới, nhất là trong giới trẻ, đề ra được một cách nhìn và cách tiếp cận mới về mọi khía cạnh của vấn đề Việt Nam, từ cá nhân đến tập thể –cách nhìn và tiếp cận mang tính chất toàn diện, dung hóa (bao dung và thâu hóa) và luôn đề cao sáng kiến và khuyến khích mọi sáng tạo. Tư trào mới cổ võ cho việc đi tìm một tầm nhìn Việt Nam mới, tầm nhìn Việt Nam trong thế kỷ XXI, một tầm nhìn tương xứng với khát vọng và tiềm năng của toàn dân Việt, với thực tế và triển vọng phát triển của thế giới. Tầm nhìn mới phải mở ra một chân trời phát triển không giới hạn cho mọi người Việt cũng như cho toàn thể dân tộc, tạo ra một niềm tin tưởng và lạc quan mới, để từ đó tích cực dấn thân vì tương lai của mỗi người và của toàn xã hội. Tầm nhìn mới phải tạo nên một Giấc Mơ Việt Nam cho mọi thanh niên Việt. Có ước mơ lớn mới có rung động lớn và dấn thân lớn.

Sự dấn thân mới này là một sự dấn thân chính trị nhưng với một phương hướng chính trị dân tộc, vượt ra khỏi những định kiến tư tưởng và cơ chế chính trị hạn hẹp và độc đoán hiện đang trói buộc sức vươn lên của toàn dân. Phương hướng chính trị dân tộc đặt căn bản lý luận và hành động trên lập trường tiến bộ dân tộc. Tiến bộ vì hội nhâp vào trào lưu tiến hóa chung của toàn nhân loại, đồng thời làm phong phú thêm nền văn hóa nhân loại. Dân tộc vì không coi những khác biệt chính kiến, tôn giáo, địa phương, nhân chủng như những yếu tố xung khắc mâu thuẫn hủy diệt nhau, mà chỉ là những thành tố đa dạng, làm phong phú thêm cho đại gia đình dân tộc. Những thành tố này phải được cùng tồn tại trong tinh thần cạnh tranh trong sáng, tự do và bình đẳng.

Phương hướng chính trị dân tộc tiến bộ phát huy tinh thần nhân bản và hòa ái dân tộc, và tâm thức “cùng mọi người cùng sống và cùng tiến”. Phương hướng này nhằm vào mục tiêu xây dựng một xã hội trong đó mọi người Việt thuộc mọi thành phần dân tộc và xã hội khác nhau đều có cơ hội phát huy và đóng góp khả năng của mình vào việc thăng tiến đời sống riêng và phát triển đời sống chung.
Để tạo được phong trào dấn thân với một phương hướng chính trị dân tộc tiến bộ như thế, những người tham gia cuộc vận động dân chủ cần có một chủ trương bao dung, cởi mở, chấp nhận mọi khác biệt, tạo môi trường đối thoại chân tình giữa những người Việt yêu nước thuộc mọi thành phần dân tộc và mọi quan điểm chính trị tư tưởng khác nhau. Chúng ta cần luôn luôn đặt tiền đồ dân tộc và quyền lợi toàn dân lên trên hết, luôn có cái nhìn Việt Nam trên mọi cái nhìn riêng tư. Chúng ta tin rằng tạo được một tầm nhìn hoà ái dân tộc và toàn dân như thế sẽ hóa giải được mâu thuẫn và bế tắc hiện nay của đất nước, khơi dậy được sức sống tiềm tàng của toàn dân Việt trong-ngoài nước, thực hiện được dân chủ và mở đường cho dân tộc phục hưng trong thế kỷ 21.

Trước mắt, tầm nhìn dân tộc và toàn dân giúp tạo nhận thức và hành động thực sự do dân và vì dân để đẩy nhanh tiến trình dân chủ hóa đất nước. Hơn thế nữa, trước nguy cơ xâm lược hiện nay của Đại Hán mới, tầm nhìn dân tộc và toàn dân tạo môi trường và điều kiện văn hóa-chính trị để thống nhất và đoàn kết toàn dân đánh bại mọi mưu toan xâm lược của Bắc Kinh.

Đoàn Viết Hoạt

Tầm nhìn thế giới và thời đại

| comments


Để trao đổi về một tầm nhìn mới cho Việt Nam, trước hết chúng ta hãy thử phân tích xem thế giới trong thế kỷ XXI mà Việt Nam đang phải tiến vào có một viễn ảnh như thế nào? Một cách tổng quát thì ngay ở những năm đầu tiên này thế giới đang chuyển từ tranh dành quyền thống trị thế giới sang hợp tác quốc tế để giải quyết một cách bền vững những vấn đề chung của toàn thể nhân loại, nhất là những xung đột quốc tế. Bản thân xung đột quốc tế đang chuyển từ xung đột kinh tế chính trị, sang xung đột văn hóa, nếp sống, niềm tin tâm linh, tôn giáo. Thế giới sẽ chỉ có hòa bình bền vững khi tham vọng Âu-Mỹ hóa mọi bình diện đời sống nhân loại được giải trừ và thay thế bằng một tầm nhìn nhân loại hòa hợp Á-Âu Mỹ đồng thời với những cố gắng tạo dựng một cộng đồng nhân loại đa văn hóa của mọi dân tộc và cho mọi dân tộc.  


 Việt Nam đang bước vào một thời đại mới với một bối cảnh thế giới và nhân loại đã hoàn toàn đổi khác và đang mở ra những viễn cảnh mới. Nếu thế kỷ XIX là thế kỷ phát triển của Âu Châu ra toàn thế giới và thế kỷ XX là thế kỷ tranh dành quyền thống trị thế giới dẫn đến đối kháng lưỡng cực tư bản-cộng sản, thì hiện nay là thời kỳ quan hệ quốc tế phức tạp, là giai đoạn chuyển tiếp từ quốc tế hóa giả hiệu, cực quyền (quốc tế do Tây Phương hay Mỹ tạo ra), sang quốc tế hóa chân chính, tức là một quốc tế thật sự của mọi dân tộc. Quan hệ quốc tế trong giai đoạn chuyển tiếp hiện nay mang tính chất phức tạp và đa dạng với quan hệ Bắc-Bắc (giữa các nước giầu mạnh với nhau), quan hệ Nam-Nam (giữa những nước nghèo yếu với nhau), và quan hệ Bắc-Nam (giầu-nghèo).
Trong bối cảnh phức tạp đó chúng tôi cho rằng thế giới và nhân loại từ năm 2000 trở đi khoảng vài thập niên sẽ diễn biến trong tiến trình chuyển tiếp từ quốc tế hóa cực quyền sang quốc tế hóa chân chính, theo ba giai đoạn: (1) giải quyết những vấn đề còn xung đột Á-Âu Mỹ; (2) tái hòa hợp Á-Âu Mỹ; và (3) phát triển một cộng đồng nhân loại toàn cầu, một quốc tế chân chính –một thế giới của mọi dân tộc. Trong giai đoạn đầu vấn đề Hồi giáo cực đoan và Trung Quốc sẽ là các vấn đề nổi bật nhất. Trong giai đoạn ba, Phi Châu sẽ trở thành vấn đề trọng yếu nhất của thế giới. 
  1. CHÍNH TRỊ
Tại các nước phát triển cao, nền dân chủ sẽ tiến thêm một bước sâu và rộng hơn nữa, bớt đi tính chất đảng tranh, mang nhiều tính dân bản hơn, với sự tham gia trực tiếp hơn của mọi thành phần dân chúng vào mọi mặt sinh hoạt xã hội. Ba thành tố của nền dân chủ hiện nay (chính trị gia, doanh gia, và trí thức-chuyên gia) sẽ được tăng cường thêm bởi ba thành tố mới (những nhà hoạt động xã hội (NGO), giới truyền thông, và cá nhân các công dân quan tâm (qua các cuộc thăm dò dư luận).  Tại các nước mới phát triển, xu thế dân chủ pháp trị là xu thế tất yếu, không thể đảo ngược được.
Trên bình diện toàn cầu, thế giới sẽ chỉ có hoà bình khi giải quyết được một cách công bằng và bền vững các xung đột quốc tế nghiêm trọng như xung đột Hồi gíáo cực đoan với Âu-Mỹ. Riêng Á Châu-Thái Binh Dương, hòa bình ổn định lâu dài chỉ có được khi ra đời một khu vưc Trung Hoa mới, phát triển bền vững trong dân chủ và tiến bộ, trong đó quyền dân tộc tự quyết và các dân quyền căn bản phải được tôn trọng. Đồng thời Liên Hiệp Quốc được tiếp tục cải tổ trong tiến trình tạo dựng nền dân chủ toàn cầu, để thật sự đại diện cho một cộng đồng quốc tế nhân bản toàn cầu, đa văn hóa và đa chủng tộc đang hình thành. Trong chiều hướng đó, các tổ chức khu vực, trong đó đáng kể là ASEAN, sẽ phát triển nhanh và ngày càng ổn định, góp phần đẩy nhanh tiến trình hình thành một cộng đồng quốc tế chân chính, của mọi dân tộc và cho mọi dân tộc.
  1. KINH TẾ THƯƠNG MẠI
Về mặt kinh tế thương mại, xu thế chung sẽ phát triển theo chiều hướng tư bản xã hôi hóa và toàn cầu hóa về mặt thị trường (vốn, kỹ thuật, và tiêu thụ) đồng thời cá thể hóa về mặt sản xuất và hưởng dụng. Trách nhiệm xã hội của các hoạt động kinh tế thương mại ngày càng được chú trọng hơn, đang mở đường cho sự ra đời một mô hình kinh tế mới, kinh tế thị trường xã hội (social market economy). Kinh tế thị trường thuần túy vì lợi nhuận tư bản cá nhân đang được điều chỉnh để trở thành nền kinh tế thị trường xã hội (social market economy), dung hòa lợi nhuận cá nhân với trách nhiệm xã hội trong một chế độ kinh tế-xã hội mới –chế  độ “tư bản xã hội hóa” (socialized capitalism), tạo nền tảng bền vững cho nền văn hóa nhân bản mới và thể chế chính trị dân chủ mới, chân chính, toàn dân, và trực tiếp (tham gia).
Đồng thời nền kinh tế tri thức và nền thương mại toàn cầu không biên giới sẽ phát triển mạnh, thúc đẩy quá trình hình thành cộng đồng nhân loại toàn cầu, nền dân chủ toàn cầu và nền văn hóa toàn cầu. Tự do giao thương liên quốc gia, toàn khu vực và toàn cầu, tác động trực tiếp tới sự phát triển tại mỗi quốc gia, đồng thời thúc đẩy xu thế toàn cầu hóa, tạo điều kiện và môi trường hình thành cộng đồng nhân loại đa văn hóa, đa chủng tộc.
Asia-Pacific sẽ trở thành trung tâm kinh tế thương mại quan trọng của thế giới trong nửa đầu của thế kỷ XXI, sau khi một cộng đồng Trung Hoa mới ra đời. ASEAN sẽ trở thành khu vực phát triển năng động thứ ba trên thế giới sau Bắc Mỹ (NAFTA) và EU. Một cộng đồng Trung Hoa mới ra đời, dân chủ và phát triển, sẽ đóng góp cụ thể và tích cực nhất vào việc tạo dựng kỷ nguyên Á Châu-TBD. 
  1. VĂN HÓA 
Về mặt văn hóa, có thể nói thế kỷ XXI sẽ là thế kỷ của văn hóa, và văn hóa sẽ mang tính nhân loại. Thế giới thu hẹp dần cả về không gian và thời gian, tạo điều kiện thúc đẩy giao lưu đa văn hóa, đa chủng tộc. Từ đó hình thành dần một ý thức và một nền văn hóa cộng đồng nhân loại. Đồng thời sinh hoạt văn hóa quốc tế càng phát triển càng thôi thúc sự hình thành những chuẩn mực giá trị đạo đức và tinh thần nhân loại mang tính toàn cầu, tính quốc tế, tính nhân loại — một tiêu chuẩn quốc tế chung cho các tiêu chuẩn quốc gia khác nhau làm chuẩn mực cho một đời sống nhân loại đang hình thành khắp nơi trên hành tinh. Trong bối cảnh đó quan hệ giữa dân tộc và nhân loại, giữa quốc gia và quốc tế, sẽ là một quan hệ mở và mỗi dân tộc sẽ có môi trường và điều kiện phát triển ngày càng dễ hơn và nhanh hơn. Đồng thời xu thế toàn cầu hóa là một thách thức nghiêm trọng đối với mỗi dân tộc: bản sắc văn hóa dân tộc phải tồn tại và phát huy như thế nào trong một nhân loại ngày càng hoà hợp đa văn hóa hơn?
  1. Á CHÂU 
Riêng đối với Á Châu, bối cảnh phát triển trực tiếp của Việt Nam, nếu thế kỷ XX là thế kỷ xung đột Á-Âu do hậu quả của thực dân hóa, của Âu Châu phát triển ra toàn thế giới, dẫn đến hậu quả Âu-Mỹ hóa Á châu, thì cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, Á Châu phục hưng cả trên kinh tế, văn hóa và vị thế chính trị quốc tế. Trong xu thế nhân loại hóa và toàn cầu hóa, một Á Châu phục hưng như thế sẽ tạo điều kiện cho sự tái hòa hợp Á-Âu Mỹ trong tinh thần kết hợp khoa học kỹ thuật Tây phương với đạo học nhân văn Đông phương. Khoa học nhân bản hơn và đạo học thực tiễn hơn. Á-Âu bổ sung lẫn cho nhau để cùng đóng góp vào việc hình thành nền văn hóa cộng đồng nhân loại toàn cầu trong xu thế phát triển con người một cách toàn diện và quân bình giữa vật chất và tinh thần, giữa tự nhiên và con người, giữa cá nhân với xã hội, giữa dân tộc với nhân loại, giữa quốc gia với khu vực và với quốc tế.
  1. NHÂN LOẠI VÀ DÂN TỘC 
Trong chiều hướng đó, tiến bộ của kỹ thuật cao (high-tech) đóng vai trò quan trọng. Internet và giao lộ thông tin điện tử quốc tế giúp tạo ra và tăng cường tính di động toàn cầu (global mobility). Cộng với tính di động xã hội (social mobility) trong mỗi quốc gia, và sự tự do thương mại toàn cầu, sự di động toàn cầu sẽ tạo thêm những yếu tố đồng nhất trong đời sống nhân loại, vượt qua những khác biệt ngôn ngữ, phong tục và lối sống. Đời sống nhân loại sẽ vừa đồng nhất hơn, lại vừa đa dạng, phong phú hơn. Đồng nhất về kiến thức, về mô hình phát triển kinh tế, tổ chức và quản lý xã hội, về phương pháp làm việc và giải quyết mâu thuẫn, xung đột. Phong phú đa dạng về văn học nghệ thuật, phong tục tập quán, ngôn ngữ. Một xã hội nhân đạo toàn cầu (global village) có nhiều điều kiện hơn để ra đời trong xu hướng: tuy dân tộc thì nhiều nhưng nhân loại vẫn là một. Bản sắc văn hóa mỗi dân tộc được trân quí như tài sản văn hóa nhân loại, như trăm bông hoa trong vườn hoa nhân loại.
  1. TÔN GIÁO 
Trong một thế giới toàn nhân loại như thế, tôn giáo tiếp tục đóng vai trò quan trọng, nhưng các tôn giáo có truyền thống tổ chức chặt chẽ sẽ gặp nhiều khó khăn về cơ cấu và nghi thức, đòi hỏi một đường hướng mới và nhiều cải tổ cơ cấu để tiếp tục đáp ứng được nhu cầu tâm linh của con người. Con người tiếp tục tiến trình mở rộng tầm nhìn tâm linh đa tín ngưỡng, tạo môi trường thuận lợi cho các quan điểm ôn hòa và hòa hợp tôn giáo. Đồng thời những hiểu biết mới về tự nhiên, về sự sống và về con người sẽ giúp phổ thông hóa và tăng cường thêm khả năng luyện tập và chủ động sinh tâm lý của con người đối với bản thân, xã hội và sinh thái. Nhờ đó con người có thêm những điều kiện mới để mở rộng và nâng cao sinh tâm thức ra đại tự nhiên và sự sống. Tôn giáo trong thế kỷ XXI sẽ phải giảm bớt đi nhiều giáo điều, lễ nghi hình thức và mang nhiều nội dung và sinh hoạt phong phú hơn và gần gũi hơn với đời sống thường ngày của con người. 

Đoàn Viết Hoạt
 
Copyright © 2014. Nhà Báo Nguyễn An Dân - All Rights Reserved
Proudly powered by Blogger