Hiển thị các bài đăng có nhãn Lê Minh Nguyên. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lê Minh Nguyên. Hiển thị tất cả bài đăng

Ý niệm Tự do và Bình đẳng nhìn qua lăng kính Dân tộc Sinh tồn (DTST)

Thứ Ba, 11 tháng 10, 2016 | comments

Tự do và Bình đẳng là những giá trị tuy đi theo tỷ lệ nghịch với nhau, nhưng công dân trong một quốc gia hay nhân loại trong thế giới đều mong muốn có được cả hai. Tự do giúp cá nhân hay nước mạnh được vượt trội, Bình đẳng giúp cá nhân hay nuớc yếu được bảo vệ.

Nó phản ảnh bản năng vị kỷ - vì mình, lấy mình làm trung tâm của mọi quyết định - để phục vụ sự sinh tồn của cá nhân hay dân tộc. Bản năng vị kỷ, vì là bản năng, cho nên tự nó không xấu không tốt. Nó tương tác với môi trường sống để bảo vệ sự sinh tồn, cho nên qua sự tương tác này nó có thể trở thành xấu, thể hiện qua tính ích kỷ, hay trở thành tốt, thể hiện qua tính vị tha.
Vì vậy hoàn cảnh môi trường mà một cá nhân (trong một quốc gia) hay một dân tộc (trong cộng đồng thế giới) tương tác sẽ làm nên hiện thực của dòng sống cá nhân hay dân tộc đó.
Trong môi trường mà Cộng Sản bần cùng hoá Miền Nam của thập niên 1975-1985 thì sự tương tác của bản năng vị kỷ với môi trường để bảo vệ sự sinh tồn thường khuyến khích tính ích kỷ. Trong môi trường người tỵ nạn sống trong các quốc gia sung mãn về kinh tế chính trị như Hoa Kỳ thì bản năng vị kỷ hướng về tính vị tha, với trên 10 tỷ đôla mỗi năm gởi về giúp người thân và đồng bào ở Việt Nam.
Cần làm rõ nội hàm của hai ý niệm Tự do và Bình đẳng. Trong tiếng Việt chỉ có một từ "tự do" nhưng trong tiếng Anh nó phản ảnh bằng hai từ "freedom" và "liberty". Vậy Tự do mà ta đang nói tới là tự do nào?
Chữ "freedom" có gốc từ nước Đức nhằm đơn giản để chỉ khả năng của cá nhân để quyết định hay hành động mà không có sự can thiệp nào từ bên ngoài. Nó khá lý tưởng vì trong thực tế, sống là sống với, và bản năng xã hội (trong DTST) khiến sinh vật có tính bầy đoàn. Trừ khi cá nhân sống ở Nam Cực hay trong rừng già Amazon để có "freedom" đúng nghĩa, bằng như "sống với" thì "freedom" luôn có giới hạn (http://bit.ly/2d6B1FP).
Trái lại, chữ "liberty" có gốc từ nước Pháp nhằm nói đến tự do được ban phát hay công nhận bởi một cái gì bên ngoài cá nhân đó, như xã hội hay chính quyền. Cho nên cuối cùng thì "freedom" là một nhân quyền mà khi sinh ra chúng ta đã có, còn "liberty" là nhân quyền mà chúng ta phải tranh đấu để có. Những nhà lập quốc của HK tin rằng "freedom" là tự do mà Thượng Đế ban phát cho con người, và "liberty" là mức độ tự do mà chính quyền ban phát cho công dân được hưởng.
Trong sinh hoạt hằng ngày, "freedom" dùng để nói lên sự không bị ràng buộc trong giao tế (thụ động) và "liberty" để nói lên quyền được làm một điều gì (chủ động) vì không bị các định chế bên ngoài giới hạn (http://bit.ly/2dZuwe8).
Trở lại từ Tự do trong tiếng Việt, nhìn qua lăng kính DTST với bản năng xã hội (tính bầy đàn) là một trong ba bản năng cấu thành bản năng sinh tồn (tình dục, vị kỷ, xã hội) thì từ Tự do mà bài viết này muốn nói đến là Tự do mà chúng ta cần tranh đấu để có, tức Tự do "liberty".
Tự do càng nhiều có nghĩa là chính quyền hay xã hội càng ít can thiệp. Đây là giá trị mà đảng Cộng Hoà ở Mỹ tin tuởng vào và tranh đấu cho. Muốn thế thì chính quyền phải nhỏ, luật pháp càng ít càng tốt để người dân không bị trói tay, hay thuế càng nhẹ càng tốt để nguời dân không bị gánh trách nhiệm xã hội quá nặng. Tự do càng nhiều thì người tài, người mạnh càng thăng tiến vì tài năng của họ được thi thố tối đa để phát triển bản năng vị kỷ của họ. Nên hiểu là bản năng vị kỷ tự nó không tốt không xấu, nhưng khi tương tác với môi trường thì nó có thể trở thành ích kỷ (xấu) hay vị tha (tốt). Bản năng vị kỷ lấy mình làm trung tâm của mọi quyết định. Các tỷ phú Warren Buffett, Bill Gates, Mark Zuckerberg... đã làm thị nguyện cho tiền tỷ là để phát triển bản năng vị kỷ của họ (lên vị tha).
Nhưng Tự do càng nhiều thì làm cho xã hội càng dễ bị bất bình đẳng, những người thành công tựa như những siêu sao trong phim cinema, còn đại đa số chỉ làm bình phong phía sau cho siêu sao được chói lọi. Vì vậy Tự do phải đi đôi với Bình đẳng, dù là hai giá trị này trái chiều nhau. Bởi vì vạn vật được tạo ra theo nguyên tắc cân bằng, không cân bằng không làm nên hệ thống hay sẽ cho ra hệ thống khuyết tật (như Cộng Sản Việt Nam hiện nay).
Tự do giúp cho cá nhân được phát triển tối đa năng lực của mình, giúp cho tinh hoa được phát tiết, nó là chân phải của cơ thể dân tộc. Trong khi đó Bình đẳng giúp cho thành phần yếu kém của dân tộc, thường là đa số, không bị bỏ rơi, nó là chân trái của dân tộc. Dân tộc muốn tiến lên cần cả hai chân để đi để chạy, còn như bỏ đi một trong hai giá trị song phương này, thì chỉ có thể nhảy một chân, không lâu bền và không nhảy qua hầm hố được. Đảng Dân Chủ ở Mỹ đặt nền tảng trên giá trị Bình đẳng này, với sự bênh vực cho người lao động, phụ nữ, người già, trẻ em, người khuyết tật...
Cũng như ý niệm Tự do, ý niệm Bình đẳng cũng cần được hiểu cho rõ. Thế nào là bình đẳng? Khi Thượng đế tạo ra con người, bởi vì anh là người, tôi là người nên có sự bình đẳng về sinh vật. Nhưng nếu anh là người có thể chất hoàn toàn khoẻ mạnh hay sinh ra trong gia đình giàu sang, còn tôi sinh ra bị tàn tật hay trong gia đình nghèo đói thì cái khởi đầu này có bình đẳng hay không? Bình đẳng là bình đẳng cơ hội (equality of opportunity) hay bình đẳng hưởng thụ (equality of outcome) hay bình đẳng quyền hạn (equality of autonomy)?
Có câu chuyện vui về bình đẳng hưởng thụ như sau: Một vị trưởng giả ở Pháp có mướn một người giúp việc. Anh chàng rất chăm chỉ làm việc nhưng có thói quen là mỗi cuối tuần đi tham dự hội họp cộng sản. Vị trưởng giả biết nhưng không cấm vì thấy anh chàng làm việc đàng hoàng. Bẵng đi một thời gian anh chàng không đi dự sinh hoạt cộng sản nữa. Ông chủ lấy làm lạ nên hỏi "Tại sao?" Anh chàng nói "Lần sinh hoạt cuối cùng họ nói nếu đảng ta thu tóm hết tài sản nước Pháp và đem chia đều theo đầu người thì mỗi người có được 3 ngàn đồng franc". Ông chủ hỏi "Thế thì sao?" Anh chàng trả lời "Nhưng tôi đang có 5 ngàn đồng franc".
Bình đẳng cơ hội chủ yếu là bình đẳng lúc bắt đầu cuộc đua như đi xin việc làm chẳng hạn, không được kỳ thị lý lịch như CSVN đã và đang làm, hay kỳ thị giới tính, giàu nghèo, chủng tộc, tôn giáo... Còn Bình đẳng hưởng thụ thì có huê dạng của Robin Hood lấy tài sản của người giàu đi phân chia cho người nghèo. Một ý niệm mới về bình đẳng là Bình đẳng quyền hạn hay bình đẳng trong việc tăng quyền (empowered) để làm các quyết định, làm cho ai cũng có khả năng phát triển tối đa năng lực của mình trong suốt chiều dài của cuộc đời. Nó dung hoà giữa Bình đẳng cơ hội và Bình đẳng hưởng thụ (http://bit.ly/2d8qFFA).
Trong thực tế hai ý niệm về bình đẳng phổ biến nhất là bình đẳng cơ hội và bình đẳng hưởng thụ. Ý niệm bình đẳng cơ hội phổ thông trong các quốc gia theo dân chủ tự do. Ý niệm bình đẳng hưởng thụ phổ thông trong các quốc gia theo xã hội chủ nghĩa. DTST nói rằng muốn sinh tồn phải chiến đấu, để thắng trong chiến đấu phải có sức mạnh, có khả năng biến cải và có khả năng hợp quần. Để chiến thắng trong chiến đấu, DTST cần sự Bình đẳng cơ hội trong môi trường, mới có thể tận dụng được sức mạnh của mình, cứng cũng như mềm, trên nền tảng công lý của cuộc tranh đua.
Tự do và Bình đẳng tuy là hai đầu đối nghịch nhau, nhưng nó tựa như thanh côn nhị khúc của Lý Tiểu Long, nó không thể rời nhau, nó có thể chặp song song nhau, nó tuy hai mà một và nó là đôi giá trị nền tảng để phục vụ cho sự chiến đấu sinh tồn của dân tộc.
Tóm lại, giá trị Tự do "liberty" và Bình đẳng cơ hội (equality of opportunity), qua lăng kính DTST, sẽ giúp cho dân tộc và con người trong dân tộc phát triển được tối đa năng lực - cá nhân cũng như dân tộc - để xây dựng lên các định chế dân chủ pháp trị, hội nhập được dân tộc Việt khắp năm châu, phát huy được sức mạnh dân tộc trên trường thế giới, để dân tộc Việt trở thành một dân tộc mạnh, sánh vai cùng các dẫn tộc khác trên bước đường hướng về tương lai của nhân loại.
Lê Minh Nguyên AT (http://bit.ly/2e1C4gf)
10/10/2016

Chiều Mưa Biên Giới

Thứ Bảy, 6 tháng 9, 2014 | comments


Việt Nam được kết nối vào Trung Quốc bằng kinh tế một cách hoàn hảo như một xứ nam man, đến độ biên cương sẽ được xoá nhoà dấu nối để ráp vào mẫu quốc bởi người thợ khéo tay, với khoảng thời gian hoàn tất từ hai đến ba thập niên (năm 2001 đến 2030).

                                Bia Đá tưởng niệm cuộc chiến chống Trung Quốc xâm lược 1979 bị đục bỏ
                                           
Có hai đặc tính chính của xứ nam man này, đó là (a) một nước chư hầu ở mạn nam được nối vào với mẫu quốc và (b) các dưỡng trấp được hút ra từ chư hầu để chạy theo các huyết mạch đầu tư và mậu dịch chảy về TQ.

Theo BBC: “Văn phòng Chính phủ Việt Nam hôm 19/2 phê duyệt một quy hoạch tổng thể về phát triển công nghiệp và thương mại trên tuyến biên giới Việt-Trung tới năm 2020 với ‘tầm nhìn đến năm 2030′.
“Theo Bộ Công nghiệp và Thương mại, các trọng điểm đầu tư được định hướng gồm: công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản…”

“Tờ Hoàn cầu Thời báo của Trung Quốc hôm 20/2 nói Việt Nam nhắm mục tiêu đạt tổng kim ngạch trao đổi mậu dịch biên giới với Trung Quốc ở mức 16 tỷ đôla vào năm 2015.

“Tờ báo này cho biết Việt Nam hiện có 11 vùng kinh tế trên một đường biên giới dài tới 1,400km tiếp giáp với Trung Quốc, với tổng trị giá giao dịch…hai bên đường biên giới đạt khoảng 15% so với tổng giá trị hợp tác kinh tế, thương mại giữa hai nước.”

CSVN dự trù mậu dịch song phương với Trung Quốc sẽ đạt được $60 tỷ đôla năm 2015 và như vậy mức thua lỗ sẽ ở vào khoảng trên $30 tỷ đôla nếu dựa vào chiều hướng của bốn năm vừa qua.

2013: lỗ $23.7 tỷ (mua-bán $50.21 tỷ USD)
2012: lỗ $16.4
tỷ (mua-bán $40 tỷ)
2011: lỗ $13.5 tỷ (mua-bán $36 tỷ)
2910: lỗ $12.46 tỷ (mua-bán $27.37 tỷ)


Nhìn con số thống kê chính thức về mậu dịch song phương Việt-Trung trong bốn năm qua và dự phóng cho đến năm 2015 thì chúng ta thấy đúng như nhận xét của chuyên gia ẩn danh từ Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam với BBC, chính quyền CSVN

“…không trình bày rõ ràng và cụ thể bằng phương thức nào Việt Nam có thể giải quyết vấn đề nhập siêu triền miên từ Trung Quốc, cũng như việc để chảy máu tài nguyên từ Việt Nam.”
Cũng theo BBC, cuối năm 2013 ông Đào Ngọc Chương, Phó Vụ trưởng Vụ Thị trường châu Á-Thái Bình Dương thuộc Bộ Công thương nói với tờ Đại Đoàn Kết: “…từ năm 2001 đến nay, Việt Nam liên tục nhập siêu…với giá trị tuyệt đối và tỷ lệ trên kim ngạch xuất khẩu luôn tăng.”
Theo báo Đại Đoàn Kết, Việt Nam khai thác khoáng sản và bán cho Trung Quốc ở dạng xuất thô và đang gây ra nguy cơ “tận diệt nguồn khoáng sản”.

Rõ ràng, Việt Nam đã trở thành một nơi mà Trung Quốc khai thác tài nguyên thô với giá rẽ, sàng lọc và bỏ lại rác rưới như bùn đỏ khi chuyển đổi bauxite ra nhôm xổi ở Tây Nguyên. Ngoài vai trò thuộc địa và bãi rác, VN còn là một thị trường tiêu thụ sản phẩm của TQ, không khác gì thời thực dân Pháp trước đây.

Báo Người Cao Tuổi hôm 11/2/14, trong chuyên mục kinh tế bình luận rằng: “Cái giá phải trả cho ‘hai chiều’ là kim ngạch càng tăng, thặng dư càng đắp cao cho phía bên kia [TQ], thâm hụt càng lún sâu ở phía ta và tài nguyên khoáng sản càng chóng cạn kiệt”.

Kiều hối ở hải ngoại gởi về khoảng từ $10 tỷ đến 12 tỷ đôla một năm, tuy rất lớn nhưng chỉ bằng phân nửa của sự buôn bán thua lỗ với TQ. Kiều hối, tài nguyên quốc gia hay tiền lời trong việc buôn  bán với Hoa Kỳ cuối cùng cũng chỉ để phục vụ vào việc trả nợ cho TQ.
Buôn bán với Hoa Kỳ trong bốn năm qua, theo thống kê của U.S. Census thì Việt Nam luôn luôn có lời:
2013: lời $19.64 tỷ (mua-bán $29.6 tỷ)
2012: lời $15.6
tỷ (mua-bán $25 tỷ)
2011: lời $13.18
tỷ (mua-bán $21.8 tỷ)
2010: lời $11.16
tỷ (mua-bán $18.6 tỷ)

Câu hỏi được đặt ra là con thuyền đất nước nên đi hướng nào? – Bắc Phương hay là Tây Phương? Cương vực để bảo vệ và duy trì căn cước Việt Nam như câu “Sơn hà cương vực đã chia. Phong tục Bắc Nam cũng khác” hay để cho kinh tế thuộc địa xoá nhoà?
Trời đã bớt bao la, biển đã không còn xa, đất nước ta đang nhạt nhoà một chiều mưa biên giới!

Lê Minh Nguyên

Hoa Kỳ và Châu Á-Thái Bình Dương

| comments

Chính sách của Hoa Kỳ ở Châu Á-Thái Bình Dưong (CA-TBD) nói chung và vùng Đông Nam Á cùng đất nước Việt Nam nói riêng được nổi bậc bởi ba đặc điểm: thứ nhất là yếu tố Trung Quốc nhưng không phải chỉ Trung Quốc, thứ hai là trụ xoay chiến lược (strategic pivot), và thứ ba là đón đầu (hedging).


 Chính sách này, trong khi nó phục vụ quyền lợi cốt lõi của Hoa Kỳ ở CA-TBD, nó cũng tạo ra một môi trường thuận tiện cho dân chúng đang sống trong các chế độ độc tài còn sót lại ở Á Châu một môi trường thuận tiện để đứng lên đòi lại quyền sống của mình, vì đang có được sự hậu thuẩn của thế giới, nhất là trong thời đại thông tin và Internet.

Hoa Kỳ từ lâu đã nhận thấy rằng sự giàu thịnh của HK trong Thế Kỷ 21 là ở CA-TBD chứ không phải ở sa mạc Iraq hay núi rừng A Phú Hãn, nhưng vì biến cố khủng bố năm 2001 đã làm đảo lộn chính sách ngoại giao của HK. Họ đã tập trung sức mạnh vào vùng Trung Đông và đương đầu với tổ chức khủng bố al-Qaida. Trong khi đó TQ hưởng được sự lơ là bỏ ngỏ ở CA-TBD về an ninh và cả thế giới về kinh tế.

Ta thấy thập niên 1990s dưới sự lãnh đạo của tổng thống đối nội Bill Clinton, ông tập trung nhiều năng lực vào bên trong HK và dễ dãi với TQ trên bình diện thế giới. Trong thời kỳ này các công ty HK hay lực lượng tư bản tự do (liberal capitalism) kết hợp với tư bản nhà nước của TQ (state capitalism) qua các xí nghiệp quốc doanh, ồ ạt mang tư bản và kỹ thuật đầu tư vào TQ để khai thác tình trạng nhân công rẽ mạc. Phía TQ có nhân công, có đất, còn phía HK có tiền và có kiến thức về kỹ thuật và quản trị. Sự kết hợp này đưa đến hàng hóa rẽ tràn ngập thị trường thế giới, nhưng đồng thời các công việc sản xuất ở HK dần dà được xuất cảng gần hết qua TQ mà hậu quả là ngày nay HK bị thất nghiệp cao. TT Obama đã hỏi ông Steve Jobs của Apple là liệu có lấy lại được các công việc sản xuất đã bị mất qua TQ không, và ông Jobs đã trả lời là không.

Ta cũng thấy trong thập niên 2000s sau đó, vì biến cố al-Qaida tấn công HK mà HK bị sa lầy trong hai cuộc chiến ở Iraq và A Phú Hãn với những chi phí khổng lồ, đồng thời tạo một khoảng chân không quyền lực ở CA-TBD mặc dù HK đã hiện hữu ở vùng này từng cả thế kỷ. Nhìn chung, trong khi HK vừa bị mất công ăn việc làm, vừa bị chảy máu kinh tế cho hai cuộc chiến, thì trong hai thập kỷ qua TQ được thoải mái để phát triển kinh tế và tránh né để không gánh vác một trách nhiệm gì như một siêu cường trưởng thành trong thế giới.

Tổng thống Obama sau khi nhậm chức, muốn xoay chuyển chính sách đối ngoại của HK, ông đã tính sai về phản ứng của TQ khi ông mềm mỏng đưa cành olive cho TQ. TT Obama muốn HK lấy lòng thế giới bằng quyền lực mềm, thay vì sử dụng quyền lực cứng như dưới thời TT Bush mà có thể coi là gần đồng nghĩa với thuận ta thì sống nghịch ta thì chết (you are with us or against us) với các quốc gia khác trong vấn đề khủng bố. TT Obama đã tiếp xúc lom khom với các nguyên thủ quốc gia thế giới, mặc dù thực tế không có những tương nhượng gì quá đáng. Nhưng TQ đã thông dịch sai và cho rằng cung cách này là dấu hiệu HK đã suy nhược, cho nên TQ càng trừng lên một cách hung hãn. Hậu quả là HK xét lại chính sách của họ đối với TQ và đã áp dụng một chính sách cứng rắn hơn mà ta thấy rõ ràng nhất là năm 2010 với các lời tuyên bố của bà ngoại trưởng Hillary Clinton ở Việt Nam, bộ trưởng quốc phòng Robert Gates ở Singapore và Nam Dương, và TT Obama ở Bali và Úc năm 2011. Các chiến lược gia cho rằng sự hung hãn này của TQ ở Đông Bắc Á và Đông Nam Á đã vô hình chung tạo nên một cơ hội quý giá và gần như là một món quà cho HK vì 10 quốc gia trong khối ASEAN cho đến Nhật Bản, Nam Hàn, Ấn Độ, Úc v.v.. cảm thấy bất an và bị đe dọa về an ninh nên đều cầu cứu đến sự can thiệp của HK mà không xua đuổi hay đặt một điều kiện gì với HK như trước đây như ở Nhật và Phi, tạo điều kiện cho HK dễ dàng xây dựng lại quyền lực ở CA-TBD.

Trở lại đặc điểm thứ nhất của chính sách HK ở CA-TBD về «yếu tố TQ nhưng không phải chỉ TQ», HK thấy rõ ràng sự thịnh vượng về kinh tế ở CA-TD ngày càng mạnh mẽ với đà phát triển thương mại và kỹ thuật đang càng ngày càng tấp nập. Nơi đây, với dân số hơn phân nửa của thế giới, TQ là nhà sản xuất của thế giới, Ấn Độ là nhà cung cấp dịch vụ, Nhất Bản là cường quốc kinh tế thứ ba, mức phát triển của vùng là từ 5% đến 12% cho đa số các nước, so với mức 1% đến 4% cho các quốc gia tây phương. Sự thịnh vượng của HK đòi hỏi một sự tham dự vào sinh hoạt kinh tế nhộn nhịp này và làm sao chiếm lại được thị trường mà HK đã bỏ ngỏ trong các thập niên qua.

Cho nên ta thấy tuy HK tham dự sau (2010) nhưng lại tích cực vận động cho một tổ chức kinh tế có tên là Nhóm Đối Tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP). Hiện nay HK và CSVN đang thương thảo về các điều kiện để cho VN gia nhập TPP, nhất là lãnh vực các xí nghiệp nhà nước cần chấm dứt tình trạng cạnh tranh không công bằng do chính quyền CSVN bôm tiền vào hổ trợ. Cộng đồng người Việt tại HK đã và đang tích cực vận động Tòa Bạch Ốc bằng hình thức quyên góp chữ ký, do đài truyền hình STBN khởi xướng để yêu cầu TT Obama khi thương thảo kinh tế thì không thể thiếu sót yếu tố nhân quyền và cần coi nó là yếu tố nội tại đương nhiên của nền kinh tế tự do. Người Việt ở HK đã tích cực tham gia và vận động thêm người ký tên cho chiến dịch đòi nhân quyền này.

Dù có dùng danh từ gì đi nữa trong mối liên hệ thì TQ cũng vừa là đối tác, vừa là đối thủ của HK. Nhìn chuyến đi HK của ông Tập Cận Bình vào giữa tháng 2/2012 thì chúng ta thấy rõ. Một mặt HK nâng niu tiếp đón nồng hậu như một đại quốc khách, dùng phó TT Joe Biden để tạo liên hệ thân thiện cá nhân tốt đẹp với ông ta, nhưng một mặt cứng rắn cảnh cáo TQ cần chấm dứt tình trạng hành xử như một đứa trẻ vị thành niên, mỗi chút là đòi bình đẳng, tương kính, tôn trọng lẫn nhau, nhưng thường xuyên vô trách nhiệm, không tôn trọng luật quốc tế, viện dẫn mình là một đất nước còn đang phát triển, chứ chưa đạt được trình độ phát triển như phương tây.

Chính sách của HK ở CA-TBD bị ảnh hưởng nặng nề yếu tố TQ, nhưng chính sách này không phải chỉ vì e ngại TQ, mà là sự giàu thịnh của HK đòi hỏi HK tham dự tích cực vào CA-TBD như một siêu cường chạy trước trong một cuộc đua. Ta thấy TPP không có TQ. TQ trách HK sao không mời và HK nói rằng đây là một tổ chức mở, ai muốn vào thì vào chứ không phải đợi mời mới vào, nhưng vào là phải tôn trọng luật chơi, mà luật chơi này là do HK đặt ra. Nếu TQ vào và chấp nhận luật chơi này thì về phía HK họ không cần phải làm thêm gì nhiều, nhưng phía TQ thì phải thay đổi rất nhiều, nhất là trong lãnh vực sản phẩm xanh mà TQ hiện giờ khó thay đổi được. Thí dụ như trong 153 sản phẩm xanh do HK đề nghị cho thuế suất của TPP là 5%, thì thuế suất quân bình của HK là 1.4%, trong khi của TQ là 7%. Như vậy HK không cần làm thêm, nhưng TQ thì phải vất vả nếu muốn vào thị trường này. Chính sách có mục đích phục vụ nền kinh tế HK qua thị trường ở vùng này, cho nên an ninh vùng này phải được ổn định, và nếu muốn an ninh được ổn định thì các giá trị tự do dân chủ phải được phát huy, như ở Âu Châu, Mỹ Châu hay Úc Châu. Nó tiềm ẩn một ý muốn thâm sâu là TQ phải được dân chủ hóa (VN cũng vậy) vì các quốc gia dân chủ chuộng ổn định và không đe dọa láng giềng.

Đặc điểm thứ hai của chính sách HK ở CA-TBD là trụ xoay chiến lược. Đây là một quan niệm mới của chính quyền Obama, khác hẳn với bao vây và ngăn chận của thời Chiến Tranh Lạnh. Ở điểm này, trên bình diện an ninh, HK xem CA-TBD là trụ cột trong chính sách đối ngoại của HK, nhưng đây là trụ cột có thể xoay theo tình hình biến chuyển của các đối tác trong vùng, nhất là TQ. Nếu TQ vươn lên trong hòa bình thì trụ cột này sẽ dẫn dắt chính sách ngoại giao HK theo chiều hướng hòa bình, nếu TQ vươn lên một cách hung hãn như trong ba năm qua thì trụ cột này sẽ xoay theo hướng một chính sách ngoại giao cứng rắn để kềm chế, giữ thăng bằng, không cho bá quyền như ta thấy trong gần 2 năm qua. Điểm này đòi hỏi HK duy trì một sức mạnh quân sự đáng kể và một hệ thống đồng minh trong vùng. Việc đặt các căn cứ quân sự như bốn tàu chiến cận duyên tối tân ở Singapore, hay vài ngàn thủy quân lục chiến ở Úc, có tính cách nói lên tình tạng đồng minh nhiều hơn là sự biễu dương lực lượng.

Ngày 8/2/2012, đại sứ Singapore, K. Shanmugam lên tiếng cảnh báo ở Washington DC rằng các ứng cử viên tổng thống Cộng Hòa không nên đánh giá thấp sự phản ứng của TQ khi mạnh mẽ chống TQ vì sẽ gây ra một thực tế mới bất ổn trong khu vực mà không ai muốn. Điều này nói lên rằng liên hệ HK-TQ là một liên hệ đan đệm và phức tạp, nó quấn quyện nhiều yếu tố tình-thù rực nắng lẫn lộn nhau, chứ không phải đơn thuần và dứt khoát đối đầu giữa 2 phe tự do và CS như dưới thời Chiến Tranh Lạnh. Chính vì vậy mà chính quyền Obama muốn giữ sự uyển chuyển trong việc đối phó bằng trụ xoay chiến lược.

Đặc điểm thứ ba của chính sách HK ở CA-TBD là «đón đầu». Nó hàm ý HK lúc nào cũng có một bước trước và một sự chuẩn bị, sự đón đầu này để áp dụng cho mọi tình huống, tích cực như trổi dậy hòa bình, hay tiêu cực như trổi dậy hung hãn. Sự đón đầu này đã được thể hiện trong gần 3 năm qua, như ta thấy dù HK bắt buộc phải cắt giảm ngân sách quốc phòng nhưng vẫn duy trì và dồn thêm sức mạnh về CA-TBD. Sự hy sinh là ở Âu Châu và Trung Đông. HK từ bỏ chính sách duy trì sức mạnh khống chế 2 biển cùng một lúc để theo chính sách duy trì sức mạnh khống chế ở TBD. Sự đón đầu được thể hiện qua sự liên kết với Ấn Độ mà hệ quả là Ấn Độ sau đó theo chủ trương hướng đông, với Nhật Bản qua sự tăng cường sức mạnh hải quân của Nhật và HK tái xác nhận các đảo mà Nhật đang có tranh chấp với TQ là bao gồm trong liên minh quân sự, với Úc mà vị trí chiến lược quan trọng, với hai vai của châu lục này gánh vác hai biển Ấn Độ Dương và TBD, trong khi phía bắc có các quần đảo che chắn và nằm ngoài tầm hỏa tiển diệt hạm của TQ. Sự đón đầu về các giá trị tự do dân chủ được thể hiện qua việc Miến Điện đã chuyển đổi chế độ, tháo bỏ độc tài quân phiệt, xây dựng dân chủ tự do, với sự tích cực liên hệ và hổ trợ của HK, và gần đây chính quyền Obama đã tích cực lên tiếng về nhân quyền ở TQ và VN. Việc đón đầu này cũng nằm trên mặt trận kinh tế qua TPP để HK có vai trò chủ động trong thị trường của vùng này, không để TQ ngang nhiên một mình một chợ.

HK luôn tuyên bố là không có ý định ngăn chận sự trổi dậy của TQ, miễn là sự trổi dậy ấy trong hòa bình, có tinh thần trách nhiệm với cộng đồng thế giới và tôn trọng luật pháp quốc tế, không tiếp tục viện dẫn mình là một nước chậm tiến để thủ lợi bằng cách chơi gian, phá luật, bá quyền hay đe dọa hòa bình an ninh thế giới. Tuy nhiên, dù muốn dù không, sự vùng lên của TQ vẫn làm cho HK xem là một đối thủ và là một đối thủ mà HK phải thân thiện vì những quyền lợi chồng chéo với nhau và hai bên cần lẫn nhau. Sự phát triển của TQ không thể thiếu HK và ngược lại, sự giàu thịnh của HK trong Thế Kỷ 21 không thể thiếu TQ, và thực tế TQ là một chủ nợ lớn nhất của HK.

Với bối cảnh này thì chính sách của HK ở CA-TBD nói chung và ĐNÁ cũng như Việt Nam nói riêng đã tạo ra cho nơi này một môi trường thuận lợi cho các dân tộc bị trị đang sống trong các chế độ độc tài có một cơ hội để vùng lên. Môi trường thế giới của ngày hôm nay với Mùa Xuân Á Rập mà đặc tính của nó là sự vùng dậy mạnh mẽ của quần chúng, đứng lên dẹp bỏ các chế độ độc tài không còn thích hợp để cai trị một đại khối quần chúng có hiểu biết và kiến thức do Thời Đại Thông Tin cung cấp. Mùa Xuân Á Châu đang âm ỉ ở TQ và Việt Nam, nó chỉ còn chờ cơ hội khi có một môi trường thuận tiện thì sẽ vùng lên, và môi trường thuận tiện này đang hình thành qua chính sách của HK ở CA-TBD.

Chúng ta thấy phái đoàn 4 nghi sĩ HK mà trong đó có ông John McCain và Joe Lieberman trong tháng 2/2012 đã đến VN thăm các nhà dân chủ như Nguyễn Văn Đài, Phạm Hồng Sơn, Lê Quốc Quân. Ông Phụ Tá Ngoai Trưởng HK Kurt Campbell  cũng đến VN và lên tiếng đòi VN phải tôn trọng nhân quyền nếu muốn có những bước tiến nhiều hơn nữa trong mối liên hệ và giúp đỡ của HK. Ở Hạ Viện HK cũng trong tháng 2/2012, Tiểu Ban Ngoại Giao Hạ Viện đã thông qua Đạo Luật Nhân Quyền và cơ hội để toàn thể Hạ Viện và Thượng Viện thông qua rất cao cho năm bầu cử này. Trong khi đó quần chúng hải ngoại rất quan tâm và luôn tham gia vào những cơ hội có được để bày tỏ với chính quyền HK, Canada, Úc, Liên Hiệp Âu Châu về ước muốn nhân quyền và tự do dân chủ sớm có được trên quê hương VN.

Tình trạng của Việt Nam hiện nay rất rõ ràng là CSVN không thể nào duy trì nguyên trạng (status quo) được nữa qua khẩu hiệu «ổn định để phát triển» tức ổn định hay giữ y hiện trạng chính trị để phát triển kinh tế. Áp lực từ thế giới với Mùa Xuân Á Rập, của HK với chính sách mới ở CA-TBD, của cộng đồng người Việt hải ngoại, của láng giềng Miến Điện, của quần chúng từ hạ tầng nén lên, bắt buộc VN phải thay đổi. Do đó, CSVN chỉ còn có hai chọn lựa mà thôi, ngoài ra không còn có cách nào khác, kể cả cách dán thuốc dán hiện nay qua các nhãn hiệu như sửa hiến pháp, làm luật biểu tình, hay đích thân thủ tướng chỉ đạo trơ trẽn (ông ta là luật, chỉ đạo Tòa Án Tối Cao Nhân Dân, truyền thông báo chí v.v..) việc cướp đất Đoàn Văn Vươn ở Tiên Lãng để hầu kéo dài tình trạng không muốn thay đổi. CSVN hoặc phải thay đổi thực sự từ trên xuống như đã và đang xảy ra ở Miến Điện, hay dân phải vùng lên để thay đổi từ dưới lên như đã xảy ra ở Tunisia, Ai Cập, Libya và hiện nay ở Syria.

Nhưng vấn nạn của CSVN là không phải họ không biết điều này, mà là họ biết nhưng không thể làm được một sự thay đổi từ trên xuống như ở Miến Điện. Lý do là vì đảng CSVN với khoảng 3.5 triệu đảng viên đã trở thành một con khủng long, vận hành bởi các phe nhóm đặc quyền đặc lợi, lãnh đạo bởi các ông vua tập thể như cựu chủ tịch quốc hội CSVN Nguyền Văn An nhận xét, cho nên không thể thay đổi được. Vì vậy, họ chỉ còn tìm cách kéo dài để trục lợi cho thật nhiều hơn qua bầy sâu tham nhũng như chính chủ tịch nước Trương Tấn Sang nhận xét, cũng như tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng kêu than là chế độ có thể sụp đổ trong hội nghị trung ương vào cuối tháng 12/2011, và đàn áp dã man hơn để dập tắt những tiếng nói đòi tự do dân chủ hay toàn vẹn lãnh thổ.

Do đó con đường sẽ xảy ra ở VN chỉ còn là sự vùng lên của quần chúng. Như Hà Sĩ Phu nhận xét, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, và vai trò của các tổ chức chính trị, hải ngoại cũng như trong nước, là trợ lực (empower) cho quần chúng và sát cánh cùng quần chúng khi họ quyết định đứng lên, cung cấp cho họ những thông tin đầy đủ và trung thực, giúp đỡ phương tiện tinh thần và vật chất, tích cực vận động quốc tế để hậu thuẩn, phổ biến mạnh mẽ hình ảnh và tin tức mà quần chúng đưa ra được đến các chính quyền, tổ chức nhân quyền và nhân dân thế giới, và bằng tất cả những cách khác mà các tổ chức chính trị có khả năng, cũng như bằng sự dấn thân của các cán bộ.

Một giọt nước không làm được cơn mưa rào, nhưng cơn mưa rào nào cùng đều được làm bằng những giọt nước. Cùng nhau quan tâm, tham dự và tranh đấu, chắc chắn dân tộc và đất nước của chúng ta sẽ có ngày vinh quang trong một thể chế chính trị dân chủ pháp trị thực sự và một đất nước có chủ quyền, dù địa chính trị có cận kề một siêu cường như TQ.

 Lê Minh Nguyên

Đức Tính Trung Thành Trong Dân Chủ Pháp Trị

| comments

Trong bất cứ một xã hội nào, xưa cũng như nay, nhất là ở Á Châu, đức tính trung thành là một đức tính luôn được người đời ca ngợi. Đây là một đức tính tự nhiên và cao quý. Tự nhiên vì nó bắt nguồn từ bản năng xã hội, là một trong ba bản năng nằm bên trong của bản năng sinh tồn, cho nên chẳng những nó có sẵn trong bản chất con người mà nó còn có trong bản chất của các loài sinh vật khác mặc dù mức độ có khác nhau, như chim uyên-ương hay cả những loài thú dữ.



Trong các xã hội theo nhân trị mà trong đó người hay giai cấp lãnh đạo đứng ngoài và đứng trên luật pháp như các chế độ quân chủ chuyên chính, độc tài phát xít, độc tài cộng sản v.v.. thì đức tính này bị khai thác, lợi dụng để phục vụ cá nhân hay giai cấp độc tài. Hiện tượng người lãnh đạo bắt kẻ dưới quyền phục vụ cá nhân, gia đình hay một phe nhóm lợi ích, hiện tượng cắt máu ăn thề đại ca tiểu đệ, hiện tượng bố già.. làm tê liệt giá trị tự do và những định chế xây dựng dân chủ pháp trị.

 Từ chuyện xưa

Thời Đông Châu Liệt Quốc ở Trung Quốc, vua nước Tấn là Tấn Ai Công bị bốn quan khanh họ Trí, Triệu, Hàn, Ngụy chuyên quyền, trong bốn họ này thì mạnh nhất là họ Trí với Trí Bá chuyên quyền và muốn chiếm ngôi nhà Tấn.

Trí Bá là một trong những người con của Trí Tuyên Tử. Khi Trí Tuyên Tử muốn lập con nối nghiệp có hỏi người trong họ là Trí Quả thì Trí Quả cho là không nên lập Trí Bá, vì theo Trí Quả, Trí Bá có năm điều sở trường hơn người và một điều sở đoản. Các điều sở trường là râu rậm mày dài, cưỡi ngựa bắn cung giỏi, nhiều kỹ năng, cương nghị quả cảm, và trí xảo biện luận. Nhưng sở đoản là tham tàn bất nhân. Trí Quả cho rằng đem năm điều sở trường đè lấn người ta mà lại thêm một nỗi bất nhân thì còn ai sống được. Nếu mà lập Trí Bá thì họ Trí tất diệt. Trí Tuyên Tử không đồng ý và cứ lập Trí Bá làm đích tử. Trí Quả than và xin quan thái sử đổi thành họ Phụ vì e có ngày bị vạ lây.

Khi Trí Tuyên Tử mất, Trí Bá nối nghiệp, cầm quyền chính nước Tấn, cùng với người trong họ là Trí Khai, Trí Quốc và thuộc hạ là Hi Tì, Dự Nhượng. Trí Bá muốn cướp ngôi nước Tấn nên tìm cách làm suy yếu ba họ Triệu, Hàn, Ngụy bằng cách lấy cớ động binh tranh bá với nước Việt, mượn lệnh vua Tấn, bắt ba họ kia mỗi họ phải nộp vào công gia họ Trí một trăm dặm đất để thu thuế làm quân phí. Hàn Hổ và Ngụy Câu vì khiếp sợ Trí Bá nên dâng đất, riêng Triệu Vô Tuất chống lại. Trí Bá huy động Hàn Hổ và Ngụy Câu đánh Triệu Vô Tuất với hứa hẹn lấy được đất Triệu sẽ chia ba. Triệu Vô Tuất chạy về thủ ở Tấn Dương. Trí Bá vây thành một năm mà không thể phá vỡ được nên làm cừ ngăn nước sông Tấn cho chảy vào thành.

Triệu Vô Tuất bí mật thuyết phục Hàn Hổ và Ngụy Câu đứng về phía mình để đánh lại Trí Bá, diệt trừ hậu họan và lấy đất Trí Bá vốn nhiều hơn đất Triệu để chia ba. Hi Tì biết Hàn Hổ và Ngụy Câu sẽ phản và tìm cách can ngăn Trí Bá nhưng không được nên cáo bệnh và trốn sang nước Tần. Triệu Vô Tuất hợp lực cùng Hàn Hổ và Ngụy Câu tháo đê cho nước đổ về dinh Trí Bá. Dự Nhượng đến cứu Trí Bá lên thuyền và khuyên Trí Bá trốn sang Tần. Triệu Vô Tuất đoán được nên phục binh bắt Trí Bá và đem chém. Dự Nhượng nghe tin bèn cải trang và trốn. Triệu Vô Tuất cùng với Hàn, Ngụy trở về Giáng Đô, kinh thành nước Tấn, quy cho dòng họ Trí tội phản nghịch và giết sạch, chỉ có một mình Trí Quả vì đã đổi ra họ Phu nên được thóat nạn. Đất của Hàn, Ngụy nộp cho Trí Bá khi trước được họ thu về, và đất của Trí Bá ba nhà chia nhau.

Dự Nhượng trốn ở Thạch Thất Sơn nghĩ cách trả thù cho Trí Bá, đổi họ tên, giả làm kẻ tù phục dịch, giắt một con dao nhọn, lẻn vào trong nhà cầu họ Triệu, định chờ khi Triệu Vô Tuất ra thì đâm chết, nhưng bị bắt. Triệu Vô Tuất cho là nghĩa sĩ nên tha. Dự Nhượng cho rằng việc tha này là cái ơn riêng, nhưng việc báo thù vẫn là điều nghĩa lớn. Sau đó Triệu Vô Tuất về ở thành Tấn Dương. Dự Nhượng luôn nghĩ cách báo thù, nhưng sợ có người biết mặt, nên cạo sạch râu và lông mày, lấy sơn bôi vào mình để giả làm người cùi, vào thành Tấn Dương và đi ăn mày ở chợ. Ông sợ vợ đi tìm và nhìn ra mình nên nuốt than để thay đổi tiếng nói.

Triệu Vô Tuất cho xây Xích Kiều trên những cái cừ của Trí Bá khi trước. Dự Nhượng biết Triệu Vô Tuất thế nào cũng ra xem cầu, nên giắt con dao nhọn, giả làm người chết, nằm phục ở dưới gầm cầu. Khi Triệu Vô Tuất gần đến Xích Kiều, con ngựa kéo xe bỗng hí lên và lùi trở lại. Triệu Vô Tuất sai quân sĩ đi sục tìm và bắt được Dự Nhượng. Triệu Vô Tuất sai đem chém., Dự Nhượng than khóc tiếc rằng không ai báo thù cho Trí Bá nữa. Triệu Vô Tuất trách Dự Nhượng đã từng làm bề tôi cho họ Phạm, họ Phạm bị Trí Bá diệt mà Dự Nhượng chịu nhục không trả thù, còn làm bề tôi cho Trí Bá, nay Trí Bá chết mà Dự Nhượng lại cố sức báo thù. Dự Nhượng cho rằng họ Phạm đãi ông ta như thường nhân, nên ông ta lấy lòng thường nhân mà xử lại, họ Trí đãi ông như quốc sĩ thì ông lấy lòng quốc sĩ mà xử lại. Triệu Vô Tuất cởi thanh kiếm đang đeo đưa cho Dự Nhượng để cho Dự Nhượng tự tử. Dự Nhượng xin Triệu Vô Tuất cởi áo cho ông được đánh mấy cái vào áo, ngụ ý báo thù rồi sẽ tự tử. Triệu Vô Tuất thương tình, cởi áo cẩm bào, sai người đưa cho Dự Nhượng. Dự Nhượng cầm kiếm, trừng mắt nhìn áo nhảy lên đánh ba lần rồi đâm cổ mà chết. Cái cầu ấy sau đổi tên là Dự Nhượng Kiều. Triệu Vô Tuất thấy Dự Nhượng tự tử thì có lòng thương xót và truyền mai táng tử tế.

Người đời thán phục đức tính trung thành của Dự Nhượng, tiếc một điều là sự trung thành ấy chỉ dành cho một cá nhân, dù cá nhân đó có ác độc đến đâu. Nếu Dự Nhượng trung thành cho một giá trị xây dựng xã hội thì xã hội đã không bị mất đi một nhân tài.

 Ngẫm chuyện nay

Ngày xưa, dân chúng sống trong Thời Đại Nông Nghiệp, các quân vương làm chủ phương tiện sản xuất của ruộng đất, cho nên họ lập ra chế độ chính trị quân chủ chuyên chính để khống chế xã hội, luật là do họ làm ra nhân danh con Trời hay Thiên Tử của «Thuận Thiên Thừa Vận, Hoàng Đế Có Chiếu…», luật chỉ để áp dụng cho người dân, còn giai cấp cai trị thì chỉ dùng Lễ nếu phạm tội, qua câu «Lễ không xuống đến hạng thứ dân, Hình không lên đến bậc đại phu». Người Cộng Sản ngày nay cũng đứng ngoài và đứng trên pháp luật. Nếu người đảng viên phạm tội thì chỉ xử lý trong nội bộ đảng qua hình thức kiểm thảo hay tự phê bình, chỉ khi nào bị khai trừ, tức mất quyền đảng viên thì luật pháp dành cho thứ dân mới áp dụng cho họ được.

Ngày nay nhân loại đã vào Thời Đại Thông Tin, trong đó luồng lao động sản xuất tập trung vào các sản phẩm của trí tuệ, cho nên nó đòi hỏi một cấu trúc xã hội có nền tảng tự do để trao đổi thông tin và lưu thông sản phẩm. Trong thời đại mới này, tất cả mọi cá nhân cần được giải phóng ra khỏi vòng kềm tỏa của độc tài để phát huy năng lực nội tại và sức sáng tạo. Muốn làm được việc này, các giá trị như tự do để phát huy năng lực cá nhân, dân chủ để phát huy năng lực dân tộc, nhân quyền để phát huy phần cao thượng của bản năng sinh tồn, pháp trị để phát huy công lý, sự bình đẳng và sự hài hòa cần thăng hoa để thay thế các giá trị đã lỗi thời của một thời đại đã qua. Các định chế để bảo vệ và phát huy các giá trị này cần được dựng xây và đức tính trung thành nên dành ưu tiên cho các giá trị và định chế này.

Trong trường hợp có sự mâu thuẩn giữa sự trung thành với cá nhân của người lãnh đạo mình và các giá trị/định chế tự do dân chủ thì người có đức tính trung thành nên dành ưu tiên cho tự do dân chủ. Trong một đảng phái có mục tiêu tranh đấu cho tự do dân chủ mà người lãnh đạo có cung cách ứng xử độc tài thì người đảng viên cần trung thành với giá trị tự do dân chủ, vì dân chủ không chỉ là cái đích cho tổ chức đến mà là con đường tổ chức đang đi, là từng trụ cây số mà tổ chức cần vượt qua, là một lề lối sống. Nếu người lãnh đạo hay đảng viên có cung cách hành xử độc tài thì con đường mà tổ chức đang đi là độc tài và vô phương mà nó có thể xây dựng tự do dân chủ cho dù mục tiêu này đã được đề ra trong cương lĩnh.

Ngày xưa việc người cha đi ăn trộm dê và người con đi tố cáo là một điều không thể chấp nhận được vì nó vi phạm giá trị trung hiếu của hệ thống nhân trị, như câu thơ «có trung hiếu nên đứng trong trời đất…» của ông Nguyễn Công Trứ. Ngày nay giá trị dân chủ pháp trị được người dân ở các nước văn minh tin tưởng vào và ưu tiên bảo vệ. Muốn xây dựng một xã hội mà mọi người dân đều có sự tự do và độc lập để phát huy năng lực thì lòng trung thành ngày hôm nay được dành ưu tiên cho các giá trị của tự do dân chủ cùng những định chế lập ra để phát huy các giá trị này.

Trong gần hai thập niên từ 1978 đến 1995 ở Hoa Kỳ có kẻ giết người bằng cách gởi bom thư, chính quyền Hoa Kỳ bất lực không thể biết được là ai nên đặt tên cho kẻ sát nhân này là Unabomber. Người giúp chính quyền tìm ra thủ phạm không ai khác hơn là em ruột của kẻ sát nhân, ông David Kaczynski. Anh của David, ông Ted Kaczynski, là tiến sĩ giáo sư đại học Berkeley, vì bất mãn xã hội kỹ nghệ hóa cao độ nên dùng phương pháp đánh bom thư giết người để phản đối. Người em đọc cái tuyên ngôn «Xã Hội Kỹ Nghệ và Tương Lai Của Nó» mà ông Ted gởi đến báo The New York Times và nhận ra nét văn của anh mình, nên David đã hy sinh tình riêng hầu bảo vệ lợi ích chung. David rất thương người anh của ông, nhưng ông không thể trung thành với anh mình mà phải trung thành với giá trị dân chủ pháp trị để bảo vệ xã hội. Sau đó ông tận lực tranh đấu cho người anh không bị án tử hình và đã thành công.

Vào giữa thập niên 2000s, một vị bộ trưởng của Thái Lan than phiền với báo The Economist rằng đất nước ông theo chế độ quân chủ lập hiến, tức mô hình dân chủ có vua như ở Anh hay Nhật, nhưng ít ai trung thành với các giá trị và định chế dân chủ mà vẫn trung thành với hệ thống đàn anh kẻ cả (patronage system), đó là nguyên nhân lớn cho sự bất ổn chính trị của nước này. Thay vì như Anh hay Nhật, nhà vua lại hay thò bàn tay lông lá vào chính quyền do dân bầu lên, hậu quả là từ khi theo dân chủ năm 1932 đến nay, Thái Lan đã trãi qua 17 hiến pháp và 18 lần đảo chánh. Vương quyền Thái Lan có nguy cơ đi theo dấu chân của Nepal là bị xóa bỏ nếu yếu tố trung thành tiếp tục đặt sai.
Trong cuộc bầu cử tổng thống ở Nam Hàn cuối năm 2012, con gái của nhà độc tài Phát Chánh Hy đã đắc cử, làm sống lại một cuộc thảo luận rằng nhờ ông Phát Chánh Hy mà Nam Hàn mới có được ngày hôm nay, rằng ông ta là một nhà độc tài sáng suốt và một số người đã cổ võ cho cho mô hình độc tài sáng suốt này. Trong khi đó thì thực chất của độc tài là độc tài, dù phía tả hay phía hữu, dù sáng suốt hay ngu muội. Trong chế độ Đức Quốc Xã hay Quân Phiệt Nhật, rất khó mà nói rằng Quốc Trưởng Hitler hay Nhật Hoàng không sáng suốt. Ta có thể ví dân chủ như sự bơi lội, nếu đứng mãi trên bờ (duy trì độc tài) thì sẽ không bao giờ biết bơi, nếu muốn biết bơi thì phải tập bơi, và chính trong giai đoạn tập bơi này người ta hay bị sặt nước (bất ổn định) nên thường e ngại. Nam Hàn, Đài Loan, Nam Dương.. đều đã qua giai đoạn tập bơi này và dân chúng khó mà chấp nhận mô hình độc tài sáng suốt.

Sự độc lập và tự do của mỗi cá nhân là điều kiện tiên quyết để phát triển đức tính trung thành với giá trị và định chế dân chủ pháp trị. Các hình thức độc tài cá nhân (despotism), độc tài phe nhóm (cronyism), độc tài gia đình trị (nepotism), hệ thống trưởng lão (gerontocracy), hệ thống đàn anh kẻ cả (patronage), hệ thống các gia đình quyền lực (oligarchy), hệ thống giai cấp (caste system), độc tài cộng sản.. sẽ hạn chế đức tính trung thành vào cá nhân hay phe nhóm đặc quyền đặc lợi, cản trở sự phát triển của tự do và dân chủ pháp trị.

Xây dựng một đất nước tự do với mô hình dân chủ pháp trị đòi hỏi một nền tảng đạo đức xã hội, một hệ thống tư pháp hoàn toàn độc lập, công minh với luật pháp do ý chí quần chúng mà ra, chứ không phải chỉ phát triển kinh tế. Nga hậu cộng sản dù kinh tế phát triển nhưng là quốc gia tội phạm với mafia và một số ít các gia đình quyền lực thu tóm đại khối tài sản quốc gia. Trung thành với giá trị tự do và các định chế dân chủ pháp trị sẽ giúp Việt Nam tương lai tránh được các dạng thái của độc tài này.

Trung thành với cá nhân là một nét của văn hóa Á Châu, có thể người ta không bỏ được nó, nhưng nếu biết sắp xếp để nó không ưu tiên khi có mâu thuẩn với các giá trị và định chế của tự do dân chủ thì cuộc tranh đấu chống độc tài mới dễ thành công và công việc xây dựng một chế độ dân chủ pháp trị mới có được một nền tảng vững bền từ quần chúng.

Lê Minh Nguyên

Luận Về Tôn Ngô Binh Pháp

Thứ Sáu, 5 tháng 9, 2014 | comments

 Luận Về Tôn Ngô Binh Pháp

Trung Quốc cổ thời có nhiều nhà quân sự tài ba và nhiều bộ binh pháp nổi tiếng như: Thái Công Binh Pháp, Lục Thao Binh Pháp, Tư Mã Binh Pháp, Tôn Tử Binh Pháp, Ngô Tử Binh Pháp. Nhưng được lưu truyền mạnh mẽ nhất là hai bộ binh pháp của Tôn Võ Tử và Ngô Khởi và đời sau hay nhập hai bộ nầy lại làm một và gọi tắt là Tôn Ngô Binh Pháp, có thể được xem là tinh hoa của binh pháp Trung Quốc.

 
Trong lãnh vực tư, các nhà lãnh đạo của các công ty Tây Phương ngày nay thường hay áp dụng binh pháp nầy vào trong các cuộc cạnh tranh trên thương trường. Sách “The Art of War” dịch ra từ Binh Thư Tôn Tử thường được các sinh viên học về quản tri kinh doanh ở các trường đại học nghiên cứu.
Tôn Tử Binh Pháp khác với Ngô Tử Binh Pháp ở chổ ông Tôn Tử xem vấn đề binh bị như là một vấn đề quân sự thuần túy, tách rời ra hẳn với những vấn đề chính trị. Trong cuộc sống cũng vậy, ông không dính dự vào những vấn đề chính trị của nhà vua. Nó tương tự như quân đội của các thể chế dân chủ hiện thời. Ngược lại Ngô Tử gắn chặt vấn đề binh bị vào vấn đề chính trị. Do đó hơi giống như quyển “Quân Vương” của Machiavelli ở Tây Phương nhưng nghiêng nhiều hơn về mặt quân sự.

Trung Quốc trong ba năm qua (2009-2011) đã theo đuổi một chính sách lấn lướt trên thế giới, nhất là ở Đông Nam Á và Biển Đông. Chính sách này đã gặp thất bại vì làm các nước hoảng sợ, nghiêng về phía Hoa Kỳ. Trong khi đó Hoa Kỳ nhận thấy sự phát triển của họ trong Thế Kỷ 21 là ở Châu Á-Thái Bình Dương cho nên nhân cơ hội này đã nhanh chóng bắt lấy để điều chỉnh chính sách đối ngoại. TQ nhận thấy bị thất bại nên cuối năm 2011 đã điều chỉnh chính sách, chuyển từ quyền lực cứng sang quyền lực mềm và bắt đầu quan tâm sử dụng trở lại Tôn Ngô Binh Pháp.

Chúng ta thử lấy một vài nguyên tắc của Tôn Ngô Binh Pháp để nghiên cứu xem nó có giúp gì cho chúng ta không trong cuộc tranh đấu cho tự do dân chủ với đảng CSVN. Đọc qua là một điều dễ làm, nhưng ứng dụng hay quyền biến được gì cho kim thời là một điều khó hơn. Ngày nay, tuy môi trường và kỹ thuật chiến đấu đã khác xưa nhiều, nhưng về bản chất, đặc tính, sự suy nghĩ, sự tác động lẫn nhau của nhân sinh thì không thể vượt qua được xã hội loài người. Do đó, nó vẫn còn có những vấn đề bất biến về nguyên tắc.

Tôn Tử nhấn mạnh đến vấn đề chiến lược, đánh và thắng trận bằng đầu óc, việc đánh bằng quân binh và vũ khí chỉ là giải pháp cuối cùng, khi không còn cách nào khác. Ông chú trọng đến tình hình thực tại, luôn luôn chuyển biến của chiến trường và có một phong thái chừng mực, khác hẳn với nhà quân sự nổi tiếng Clausewitz của nước Phổ (Prussia) ở Tây Phương chủ trương tuyệt đối, thuần lý, toàn diện trong chiến tranh, không bị giới hạn tình cảm.

Tôn Tử cho rằng nghệ thuật tột đỉnh của chiến tranh là chế ngự được kẻ thù mà không cần phải đánh, chiếm được thành lũy mà giữ được sự nguyên vẹn, lật đổ được chính quyền mà không gây đổ máu. Ông nhấn mạnh đến việc khai thác những yếu tố bất ngờ và dùng lối tấn công gián tiếp.
Ông nhắc nhở nhà vua và các nhà chỉ huy quân đội là không nên chỉ cậy dựa vào sức mạnh quân sự, vì ông không quan niệm chiến tranh trong cái nghĩa chém giết và tàn phá, mà là chiếm được một cách trọn ven, không sức mẽ, hoặc gần như không bị sức mẽ, là đối tượng chính của chiến lược.

Vì cho rằng chiến thắng không phải là mục đích tối hậu của chiến tranh, do đó ông không chấp nhận chiến tranh trường kỳ, vì cho rằng không nước nào có lợi cả cho một cuộc chiến như vậy. Chiến lược gia phải đọc được đầu óc và sự tính toán của kẻ thù, biết được và chuẩn bị kỹ càng trong việc thấu hiểu phía địch và biết rõ chính mình, thì sự chiến thắng được coi như biết trước.
Muốn chiến thắng thì quân tướng phải sảng khoái, đoàn kết, có tinh thần chiến đấu cao độ, kế đến tìm cách làm nhục ý chí và làm hoang mang quân địch rồi tấn công. Chính sách hay nhất là tấn công những kế hoạch của kẻ thù, thứ đến là làm sụp đổ những liên minh quân sự của họ.

Nếu có một chân lý trong chiến tranh thì cái chân lý đó là “sự luôn luôn huyền biến“. Vai trò của một viên tướng là tạo ra những biến đổi và xoay trở những biến đổi nầy để giữ lợi thế. Khi thấy cơ hội xuất hiện thì phải hành động thật nhanh và thật dứt khoát.

Còn Ngô Tử coi việc binh bị là một phương tiện của nhà vua để xây dựng đế nghiệp. Do đó, lúc sinh thời, ông đến giúp nước nào thì nước đó trở thành hùng mạnh. Đó là một ưu điểm của ông trong việc phục vụ chế độ chính trị quân chủ chuyên chính, nhưng đó cũng là tử điểm của ông vào lúc cuối đời.
Ông cho rằng muốn thắng trận thì trước hết đất nước phải thực sự hòa hợp và đoàn kết. Nếu trong nước không hòa hợp thì đừng ra quân, trong quân không hòa hợp thì đừng bày trận, trong trận không hòa hợp thì đừng tiến đánh, khi đánh không hòa hợp thì không thể thắng được
.
Việc chiến thắng địch thì dễ hơn là việc giữ được đất nước địch, do đó ông cho rằng việc chỉ lo háo thắng là một điều tai họa “ai thắng năm lần thì gặp tai họa, thắng bốn lần thì chịu tệ hại, thắng ba lần thì làm bá, thắng hai lần thì làm vương, thắng một lần thì làm đế.” Quan niệm nầy tương tợ như quan niệm của ông Winston Churchill trong Đệ Nhị Thế Chiến là có một kế hoạch (plan) rõ ràng để chiến thắng mặc dù thực tế chiến trường không xảy ra như dự liệu và cần phải luôn luôn điều chỉnh, hay “thua không có nghĩa là thất bại, bỏ cuộc mới là thất bại.“

Ông chia đối thủ ra làm năm loại và tìm hiểu đối thủ rơi vào hạng loại nào để đánh cho thích hợp. Năm loại đó là: (1) nghĩa binh hay binh cứu nước; (2) cường binh hay binh đông và mạnh; (3) cương binh hay binh được dấy lên vì do sự giận dữ; (4) bạo binh hay binh hung dữ, tham lợi; (5) nghịch binh hay đem binh đi đánh bên ngoài để khỏa lấp những chuyện rối rắm bên trong.
Ông luôn nhấn mạnh đến vấn đề tổ chức và kỹ luật để đào tạo đội quân tinh nhuệ, nhưng khi đi đánh thì phải làm sao cho nhân dân trông thấy là bên ta phải lẽ, bên địch trái lẽ. Trước khi đánh phải điều nghiên phong tục, tánh tình của người dân trong nước địch, tùy theo văn hóa và tánh khí của nước địch thù mà cách đánh khác nhau.

Trong tám trường hợp mà ông cho là phải đánh ngay thì có sáu trường hợp phát xuất từ địch tình như (1) địch bị kẹt lâu ngày ở một địa hình bất lợi, (2) cạn lương không có tiếp vận, (3) quân ít không có đồng minh, (4) đường xa mệt mõi, (5) lãnh đạo kém lòng quân không vững, (6) địch ở địa thế bất lợi mà trận địa chưa bày. Còn hai trường hợp do thời tiết như (1) địch di binh khi trời gió lạnh, (2) vượt đường xa trong những ngày nóng bức.

Nghiên cứu địch tình, ông quan tâm xem họ có thiếu tổ chức? thiếu đồng minh? thiếu lãnh đạo? thiếu phòng thủ? Và khi tấn công thì ông tấn công ở những lúc và những nơi mà họ sơ xuất. Ông luôn luôn tìm cách đẩy địch vào cái lề lối, chiều hướng, la bàn suy nghĩ của họ và không cho họ rãnh tay để suy nghĩ và biết cách dụng binh của ông “ta bày trận tròn thì phải buộc chúng đổi thành trận vuông, binh ta ngồi ta buộc chúng đứng dậy, binh ta đi ta buộc chúng đứng lại, binh ta qua trái ta buộc chúng qua phải, binh ta quay ra trước ta buộc chúng quay ra sau, binh ta phân tán ta buộc chúng tụ họp, binh ta kết hợp ta buộc chúng giải tán.”

Ông cho rằng người tướng giỏi cần có năm đức tính (1) quản lý dễ dàng số đông, (2) ở tư thế luôn luôn chuẩn bị, (3) có tinh thần quả cảm, (4) luôn có tinh thần kỹ luật cao độ dù thắng hay thua, (5) rõ ràng và cương quyết hoàn thành trọng trách.
Nắm vững địa thế sẽ làm cho việc dụng binh được dễ dàng và không bị tốn phí “dùng quân đông cần đất dễ, dùng quân ít cần đất hiểm.” Trong trường hợp địch đông, ta ít thì ở đất dễ ta tránh địch, ở đất kẹt ta đón chúng. Ông cho rằng ở đất kẹt có thể lấy một đánh mười, ở đất hiểm có thể lấy mười đánh trăm, ở đất khó có thể lấy ngàn đánh mười ngàn.

Chúng ta thường nghe nói “tam thập lục kế” hay 36 mưu kế hay trong chiến đấu, 36 kế nầy đều được rút ra hầu hết từ Tôn Ngô Binh Pháp như (1) kế “che mắt thế gian” được rút ra từ quan niệm của Tôn Tử là cái giỏi trong việc hành binh là làm cho nó vô hình, (2) kế “vây Ngụy cứu Triệu” được rút ra từ Tôn Ngô Binh Pháp, áp dụng cho những trường hợp giải vây, (3) kế “mượn tay người khác” hay quan niệm “kẻ thù của kẻ thù của chúng ta là bạn ta” dựa từ chuyện Hàn Phi Tử và Tam Quốc Chí mà trong đó Khổng Minh nhờ tay Tôn Quyền để đánh Tào Tháo, (4) kế “lấy khỏe đánh mệt” rút từ Tôn Tử về việc lấy kẻ gần đánh kẻ ở xa, lấy kẻ nghĩ ngơi đánh người mõi mệt, lấy người no đánh ké đói, (5) kế “thừa gió bẻ măng” dựa vào chiến thuật giành lấy trong rối loạn của Tôn Tử, (6) kế “giương đông kích tây” hay diện và điểm, làm cho địch tập trung sức mạnh vào điểm A để đánh điểm B, (7) kế “có ít xích to” để tuyên truyền dụ hoặc, (8) kế “ngầm vượt Trần Thương” dựa vào chuyện Hán Sở Tranh Hùng, chủ yếu là đánh lạc hướng, (9) kế “cách sông ngắm lửa”  dựa vào Tôn Tử về việc lấy trị để đối phó với loạn, lấy tỉnh để đối phó với động, ngồi bên sông xem nhà cháy mà đợi cơ hội, (10) kế “ngọt mật chết ruồi” hay dùng lời lẽ ngon ngọt dể đưa địch vào cạm bẩy, (11) kế “mận chết thay đào” hay Lê Lai cứu chúa, (12) kế “đánh bùn sang ao” hay đánh lạc sự chú ý,  (13) kế “thả bóng thăm dò” dựa vào Tôn Tử dùng biến thế để quan sát phản ứng của đối phương, (14) kế “hồn Trương Ba da hàng thịt” hay rượu cũ bình mới, (15) kế “điệu hổ ly sơn” hay dụ con cọp ra khỏi núi, dựa vào Binh Thư Tôn Tử, (16) kế “muốn bắt thì phải thả” hay lùi một bước để tiến ba bước, ngụ ý thả lỏng hay làm lơ để địch mất sự phòng bị hay lo sợ rồi ra tay, (17) kế “thả hòn đất, cất hòn vàng” hay bỏ con tép bắt con tôm, hy sinh cái nhỏ để đạt việc to, (18) kế “bắt giặc phải bắt tướng” dựa theo Tôn Tử là diệt được đầu não của địch là quan trọng, phá quân địch là thứ yếu,  (19) kế “rút củi đáy nồi” hay nhổ cỏ phải nhổ tận gốc, hàm ý phải giải quyết vấn đề từ cái nguyên nhân, (20) kế “đục nước béo cò” dựa vào Tôn Tử là làm rối lên nhưng mình không được rối, (21) kế “ve sầu lột xác” đây là kế thoát thân làm cho địch không kịp phát hiện ra, (22) kế “đóng cửa bắt cướp” dựa vào thuật bao vây của Tôn Tử, (23) kế “xa thì giao hảo, gần thì tấn công“, kế nầy áp dụng yếu tố địa lý chính trị như TQ đã làm với VN, (24) kế “mượn đường phạt Quắc” do sự tích nước Tấn muốn đánh nước Ngu nhưng nói với nước Ngu là muốn mượn đường nước Ngu để đi đánh nước Quắc, (25) kế “trộm xà thay cột” dựa vào Tôn Tử là điều động binh như thế nào để địch phải biến hóa theo, đến một lúc địch mất đi cái thế mạnh mà lòi ra cái thế yếu, (26) kế “chỉ chó mắng mèo” hay giết gà để răn khỉ, dựa vào Tôn Tử về lệnh bằng văn trị bằng võ, (27) kế “giả dại qua ải” dựa vào Tôn Tử để lừa địch trong thời kỳ ta còn chuẩn bị, (28) kế “qua sông đốt thuyền” hay lên nóc rút thang, dựa vào Tôn Tử phải giành chiến thắng ở nơi đất chết, (29) kế “hoa nở trên cành” dựa vào Tôn Tử về việc nghi binh, (30) kế “chuyển ngôi chủ khách” dựa vào Tôn Tử là biến thế thụ động thành chủ động, thế khách thành thế chủ,  (31) “mỹ nhân kế” dựa vào Hàn Phi Tử, (32) “không thành kế” dựa vào Khổng Minh lừa Tư Mã Ý bằng cách lấy không làm có, lấy ít làm nhiều, (33) kế “phản gián” dựa vào Tôn Tử dùng tình báo của địch để đánh địch, (34) “khổ nhục kế” dựa vào thời Chiến Quốc chịu khổ nhục trá hang để lấy lòng tin của địch, (35) “liên hoàn kế” tức là dùng nhiều kế cùng một lúc theo thế liên hoàn hổ tương nhau, (36) kế “tẩu vi thượng sách” dựa vào Ngô Tử, không thắng thì chạy cho nhanh.

Tôn Tử đặt nặng vào vấn đề chiến lược và dùng sự tính toán cao thấp để chiến thắng đối phương, nó rất phù hợp với khoa học lãnh đạo và quản trị của các đại học Tây Phương kim thời vì họ luôn luôn tập trung vào những vấn đề chiến lược (strategy) và kế hoạch (plans). Tôn Tử không đánh địch một cách trực tiếp mà tìm cách đánh vào các chiến lược, chương trình và kế hoạch của địch.
Chiến tranh hay hòa bình đều chỉ là môi trường của sự tranh đấu. Ngày nay, trong Thời Đại Thông Tin và môi trường hòa bình, chúng ta không thể dùng phương tiện của chiến tranh, tức vũ lực, để tranh đấu với CSVN một cách hữu hiệu được. Nhưng chúng ta có khả năng đánh vào ý thức hệ, các chiến lược, chương trình và kế hoạch của chúng.

Nếu khôn khéo, chúng ta có đủ khả năng để luôn luôn quyền biến như cách điều binh thần tình của Tôn Tử và một sự hòa hợp, đoàn kết trước khi lâm trận như Ngô Tử quan niệm. Với khả năng sáng tạo, chúng ta có thể làm nên một bản nhạc nhiệm mầu mà các nhạc công với nhạc cụ riêng của mình (tức các tổ chức chính trị riêng rẽ) đều có thể tham gia để nhân dân Việt Nam được thưởng thức một bản đại hòa tấu vang lừng của Thế Kỷ.

Những ngày cuối năm 2011 từ 26 đến 31 tháng 12, trong Hội Nghi Trung Ương 4 của CSVN, ông Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng rên rĩ trong tuyệt vọng về “sinh mạng của Đảng và sự tồn vong của chế độ”, biểu hiện lời trăn trối và điềm báo của một chế độ độc tài sắp tàn, khi thế giới chào đón năm mới 2012 với sự nở hoa của các chế độ dân chủ. Nếu áp dụng chiến lược Tôn Ngô cho cuộc cách mạng ở Việt Nam và thành công, thì chúng ta sẽ có được một nước Việt Nam trọn vẹn mà không bị sức mẽ.

Lê Minh Nguyên

Thay Đổi Trong Đấu Tranh

| comments

Thay Đổi Trong Đấu Tranh

 Thay đổi (organization change) thì tựu trung có 3 cách, đây là cách nói tổng quát vì trong mỗi cách có nhiều biến tính ở phía dưới. Tùy theo quan niệm và thế đứng của mỗi người mà chọn cho mình cách thay đổi thích hợp nhất cho mình.


Người nào không quan tâm nhiều với cái khung sườn/hệ thống/chế độ mà quan tâm nhiều tới việc làm cho tốt hơn bên trong thì làm công việc đổi mới (reform). Nếu hệ thống là một nhà tù thì phải thay đổi làm sao cho tù nhân không bị tra tấn, ăn uống đầy đủ hơn, thể dục thể thao, tivi giải trí nhiều hơn. CSVN và CSTQ chú trọng đến phát triển kinh tế để giữ ổn định chế độ, với khẩu hiệu “ổn định để phát triển”, hay vẫn giữ chế độ độc đảng nhưng cho thảo luận dân chủ hơn trong nội bộ đảng, đang đi theo cách thay đổi này.

Nếu người nào quan tâm đến việc thay đổi khung sườn/hệ thống/chế độ nhưng không chủ trương phải nhanh và toàn diện mà từng phần, từng bước một, không vội vã nhưng cương quyết với tiến trình này để sau một thời gian dài thì nhà tù trở thành khu gia cư, chế độ độc tài được thay bằng chế độ dân chủ (transform). Họ tìm cách phá bỏ hệ thống từng phần và phá đến đâu thì xây đến đó, phá bỏ “lề phải” để xây lưu thông hai chiều của tự do báo chí, phá bỏ quyền sở hữu nhà nước trên đất đai để xây dựng quyền sở hữu tư nhân, phá bỏ thanh lọc để xây dựng bầu cử trực tiếp v.v.. Tôi nghĩ những người này hiện nay khá đông, bên trong và bên ngoài VN. Có lẽ GS Lê Xuân Khoa và 36 vị trí thức đi theo hướng này. Đây là đồng minh của những người muốn thay đổi hệ thống, dù ai có chủ trương nhanh hay chậm (đặc tính của dân chủ là sự đa dạng).

Nếu người nào quan tâm đến việc thay đổi khung sườn/hệ thống/chế độ một cách nhanh chóng và toàn diện như các nước của Mùa Xuân Á Rập thì quan tâm nhiều hơn đến một cuộc cách mạng (revolution), trong nước thì có vai trò diễn viên (actors), ngoài nước thì có vai trò tạo cảnh (enablers). Cách mạng ôn hòa dựa nhiều vào vai trò của truyền thông, thông tin, kết nối, viết lách v.v.. để tạo sự thức tỉnh (awareness), như phong trào bảo vệ môi sinh, hay bảo vệ thú vật, hay Tea Party, mà đôi khi có người phàn nàn là đánh võ mồm. Dù là thủ tướng đánh giặc trong đại chiến thế giới, nhưng ông Winston Churchill vẫn cổ xúy việc đánh võ mồm (jaw-to-jaw is better than war-to-war). Để sự thay đổi được ôn hòa thì việc đánh võ mồm cần được khuyến khích và phát triển vì nó là đầu mối của sự quan tâm và tham dự của quần chúng.

Đảng CS ở Trung Quốc, Việt Nam cũng như đặc tính chung của những tổ chức được thiết kế (design) theo mô hình cứng rắn kim tự tháp, những người bên trong hệ thống dù có tư tưởng thay đổi dân chủ cũng thường nghĩ rằng việc thay đổi, nếu có, là do chính họ làm và không chấp nhận người bên ngoài hệ thống. Trong khi ngược lại, người bên ngoài hệ thống thì chấp nhận làm việc với người bên trong hệ thống.

Chúng ta vì ở hải ngoại nên ở vị trí của người tạo cảnh (enablers), trong khi các hạt nhân dân chủ thì có thể mọc lên ở bất cứ nẽo đường nào của đất nước. Nhiệm vụ của chúng ta là làm sao tạo được môi trường-nhiệt độ-tưới nước-vun phân thích hợp để các hạt nhân này được nẩy mầm. Dù muốn dù không thì hải ngoại là chổ dựa tinh thần (có thể kể cả vật chất) cho người trong nước, cho nên sự lạc quan, trong sáng, mạnh dạn và dứt khoát trong lập trường sẽ giúp người trong nước vững tin ở hải ngoại hơn để họ có thể quan tâm và tham dự vào công cuộc tranh đấu để dân chủ hóa đất nước.

Không có lý do gì người trong nước đối diện với hiểm nguy, bắt bớ, đánh đập, tù đày mà lại có tiếng nói và lập trường cứng rắn, dứt khoát hơn người hải ngoại, đang an toàn trong các chế độ dân chủ.
Việc của đất nước không phải một đời người mà làm được và không phải chỉ có mình hay tổ chức mình mới làm được. Mười năm đời người bằng một năm tuổi nước. Có chấp nhận được thực tế này thì chúng ta mới không bi quan. Tranh đấu là tìm hướng tiến, vị thế tốt đầy ưu thế cho dân tộc trong dòng tiến hóa của nhân loại, nó không có điểm đến, nó chỉ có những trụ cây số (mileposts) mà dân tộc phải vượt qua mà thôi.

Lê Minh Nguyên

 

 
Copyright © 2014. Nhà Báo Nguyễn An Dân - All Rights Reserved
Proudly powered by Blogger